Tấm gương Đinh Đức Hồng -50 năm son sắt với Đảng
Đinh Đức Hồng* nhập ngũ năm 15 tuổi. Năm 17 tuổi ông vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Năm 1954, trong trận đánh bốt Mỹ Đình, ông bị thương nặng và mất đi một chân. Nhưng với ý chí kiên cường, ông vẫn tiếp tục công tác 30 năm ở các cơ quan nhà nước, rồi 20 năm làm tổ trưởng tổ dân phố. Tròn *50 năm tuổi Đảng*, ông luôn sống giản dị, cống hiến hết mình, không đòi hỏi. Ông là tấm gương sáng về *lý tưởng, nghị lực và lòng trung thành* với Đảng, với nhân dân. Câu chuyện của ông nhắc chúng ta: "Sống là cho đi, giữ gìn và xây dựng đất nước".
Giữa lòng Hà Nội hôm nay, có một người đàn ông tuổi gần 90, bước đi hơi khập khiễng nhưng lưng vẫn thẳng. Nụ cười của ông hiền như ông nội nhà bên, ít ai biết rằng cả cuộc đời ông là một pho sử sống về hai chữ “trung thành”.
Ông ấy là Đinh Đức Hồng, thương binh hạng 2/4.
Năm 1948, khi khói lửa kháng chiến chống Pháp còn ngùn ngụt, một cậu bé 15 tuổi ở làng ngoại thành Hà Nội đã xin đi bộ đội. Cậu bé ấy là Hồng. Cái tuổi đáng lẽ còn đến trường, còn được mẹ dỗ dành ăn từng bát cơm, thì Hồng lại khoác ba lô, vác súng ra trận. Mẹ níu tay lại, ông chỉ nói một câu: “Nước mất thì nhà tan, con phải đi”. Nói rồi bước đi không ngoảnh lại.
Hai năm sau, giữa rừng Việt Bắc, trước cờ đỏ sao vàng, chàng trai 17 tuổi Đinh Đức Hồng giơ tay tuyên thệ vào Đảng. Từ một đứa trẻ, ông đã trở thành người chiến sĩ cộng sản, mang trong tim lý tưởng giải phóng dân tộc.
Rồi cái ngày định mệnh ấy cũng đến. Năm 1954, đơn vị của ông nhận lệnh đánh chiếm bốt Mỹ Đình - cứ điểm kiên cố của địch ở cửa ngõ Hà Nội. Đêm tiến công trời tối như mực. Tiếng “xung phong” vừa dứt thì súng đạn nổ tung trời. Ông Hồng dẫn đầu mũi đột kích. Bỗng một tiếng nổ chát chúa. Mìn. Khói bụi mù mịt. Khi đồng đội chạy đến thì thấy ông nằm đó, máu loang khắp người, chân trái nát vụn.
Ở trạm phẫu dã chiến, bác sĩ bảo: “Phải cắt bỏ chân”. 22 tuổi, mất một chân. Nếu là người khác có lẽ đã gục ngã. Nhưng ông Hồng chỉ thều thào: “Tôi còn một chân, còn một bàn tay, còn cái đầu. Cho tôi tiếp tục làm việc cho Đảng”.
Hòa bình lập lại, nhiều người khuyên ông về quê nghỉ, hưởng chế độ thương binh. Ông lắc đầu. “Đất nước còn bao việc. Mình còn sức thì còn phải làm”. Từ năm 1955 đến 1985, với chiếc chân giả gỗ, ngày nào ông cũng đến cơ quan từ rất sớm. Ông làm công tác thương binh liệt sĩ, đi vận động thanh niên nhập ngũ, đến từng xóm để tuyên truyền đường lối của Đảng. Người ta hỏi ông có mệt không, ông chỉ cười: “Ngày xưa bom đạn còn không sợ, giờ sợ gì mấy cái giấy tờ”.
Ông không bao giờ kể về mình. Mỗi lần họp, người ta mời ông phát biểu, ông chỉ kể về đồng đội đã ngã xuống. “Tôi may mắn còn sống. Các anh ấy mới là người cho tôi ngày hôm nay”.Năm 1985 ông nghỉ hưu. Nhưng với ông, nghỉ hưu không có nghĩa là nghỉ ngơi. Ông về làm tổ trưởng tổ dân phố. Hai mươi năm trời, đêm nào ông cũng đi tuần. Thấy thanh niên hư, ông đến tận nhà khuyên bảo. Thấy gia đình khó khăn, ông vận động bà con giúp đỡ. Đến 22/12, 30/4, trường học mời ông đến nói chuyện, ông không nói lý thuyết. Ông chỉ kể chuyện thật. Chuyện đói rét trong rừng, chuyện một nắm cơm chia năm người, chuyện người đồng đội ngã xuống nhưng tay vẫn ôm chặt súng.
“Các cháu ơi, hòa bình không tự nhiên mà có. Độc lập không phải trên trời rơi xuống. Các cháu phải học, phải lao động, phải giữ lấy nó bằng cả trái tim”.
Tròn 50 năm kể từ ngày vào Đảng, ông vẫn giữ nguyên lời thề năm xưa. Không tham lam, không đòi hỏi, không một lời kêu ca. Có người hỏi bí quyết để ông vững vàng, ông chỉ tay vào ngực: “Ở đây có Đảng, có nhân dân. Mất một cái chân thì đã sao, đất nước này vẫn còn để mình đi”.
Hôm nay ngồi trước ông, nhìn tấm huân chương kháng chiến đã sờn và chiếc chân giả đặt cạnh ghế, tôi mới hiểu thế nào là “sắt son”. Sắt son không phải lời nói. Sắt son là 50 năm, từ chiến trường đến cơ quan, từ cơ quan về tổ dân phố, lúc nào cũng một lòng vì dân, vì nước.
Câu chuyện của ông Đinh Đức Hồng không phải chuyện cổ tích. Đó là chuyện đời thường của một con người đã chọn sống hết mình vì lý tưởng. Thời chiến ông cầm súng. Thời bình ông cầm bút, cầm cái tâm để xây dựng quê hương.
Thời hoa lửa đã qua, nhưng “hoa lửa” trong ông thì chưa bao giờ tắt. Nó cháy trong từng lời nói với lớp trẻ, cháy trong từng bước đi khập khiễng nhưng kiên cường.
Ông dạy chúng ta rằng: Tổ quốc không cần chúng ta phải hy sinh cả tính mạng nữa, Tổ quốc chỉ cần chúng ta sống tử tế, sống có ích, sống không quên quá khứ.
Một đời người. Một niềm tin. Một tấm gương. Đó là Đinh Đức Hồng.



