TẤM GƯƠNG KHÍ TIẾT CỦA DANH NHÂN YÊU NƯỚC NGUYỄN CAO
“Thà chết vì non sông đất nước, quyết không cúi đầu làm tôi tớ cho quân xâm lược.”
Mỗi vùng quê Kinh Bắc đều lưu giữ những trang sử hào hùng của dân tộc. Trên mảnh đất Quế Võ giàu truyền thống văn hiến và cách mạng, tên tuổi cụ Nguyễn Cao – người đời thường gọi là Tán Cao – vẫn được nhân dân nhắc đến với niềm kính trọng như biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần bất khuất trước họng súng thực dân Pháp.
Nguyễn Cao tên thật là Nguyễn Thế Cao, hiệu Trác Phong, sinh năm 1828 tại làng Cách Bi, huyện Quế Dương xưa, nay thuộc xã Cách Bi, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, nhưng bằng ý chí và nghị lực phi thường, ông chuyên tâm đèn sách và đỗ đầu kỳ thi Hương năm 1867 tại trường thi Hà Nội, được gọi là Giải nguyên Nguyễn Cao. Tuy đỗ đạt cao, ông không màng danh lợi, từ chối ra làm quan mà trở về quê mở trường dạy học, truyền bá đạo lý và hun đúc tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ.
Năm 1873, khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất, Nguyễn Cao không thể đứng nhìn đất nước bị giày xéo. Ông tự đứng ra chiêu mộ hơn một nghìn nghĩa sĩ, cùng các lực lượng yêu nước chiến đấu chống quân xâm lược tại Gia Lâm và nhiều vùng lân cận. Mặc dù phong trào buộc phải giải tán sau khi triều đình Huế ký hòa ước với Pháp, tinh thần chống giặc của ông chưa bao giờ suy giảm.
Sau đó, Nguyễn Cao được triều đình bổ nhiệm làm Tri huyện Yên Dũng, rồi Tri phủ Lạng Giang. Dù giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước phong kiến, ông luôn nổi tiếng là vị quan thanh liêm, thương dân, quan tâm đến đời sống nhân dân và tổ chức khai hoang, mở mang sản xuất. Chính vì vậy, ông được người dân hết lòng yêu mến.
Năm 1882, thực dân Pháp tiếp tục đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai. Một lần nữa, Nguyễn Cao bỏ lại cuộc sống yên ổn để đứng lên chống giặc. Ông cùng các thủ lĩnh nghĩa quân như Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Huy tổ chức lực lượng chiến đấu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong một trận đánh tại Gia Lâm vào tháng 5 năm 1883, ông bị thương nặng nhưng vẫn không từ bỏ ý chí cứu nước. Sau khi bình phục, ông tiếp tục được giao giữ chức Tán tương quân vụ Bắc Kỳ, trực tiếp chỉ huy các hoạt động kháng chiến.
Đến năm 1885, hưởng ứng Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, Nguyễn Cao cùng nhiều sĩ phu yêu nước thành lập Đại Nghĩa Đoàn, tập hợp nghĩa quân ở Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương để tiếp tục chiến đấu chống thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ, phong trào dần gặp nhiều khó khăn. Cuối năm 1886, ông bị quân Pháp bắt giữ.
Điều khiến hậu thế khâm phục nhất ở Nguyễn Cao chính là khí tiết của một người yêu nước đến phút cuối cùng. Biết mình không thể tiếp tục chiến đấu, ông đã tự rạch bụng để giữ trọn khí phách, không khuất phục trước quân thù. Ngày 1 tháng 4 năm 1887, ông bị thực dân Pháp xử chém, hiên ngang bước vào cõi bất tử khi mới 59 tuổi.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng tên tuổi Nguyễn Cao vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Bắc Ninh. Tại quê hương Cách Bi vẫn còn đền thờ ông để tưởng nhớ vị anh hùng đã dành trọn cuộc đời cho độc lập dân tộc. Những vần thơ trong tập “Trác Phong thi tập” cùng tấm gương kiên trung của ông tiếp tục truyền cảm hứng cho thế hệ hôm nay về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý chí vượt qua mọi khó khăn để xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.
Là đoàn viên thanh niên của quê hương Bắc Ninh, tôi càng cảm nhận sâu sắc rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao máu xương của các thế hệ đi trước. Học tập tấm gương Nguyễn Cao không chỉ là ghi nhớ công lao của tiền nhân, mà còn là lời nhắc nhở mỗi người trẻ phải sống có lý tưởng, có trách nhiệm với cộng đồng, không ngừng học tập, rèn luyện để xứng đáng với truyền thống anh hùng của quê hương Kinh Bắc.
Ngọn lửa yêu nước mà Nguyễn Cao thắp lên cách đây gần một thế kỷ rưỡi vẫn đang cháy sáng. Đó chính là ngọn lửa của lòng tự hào dân tộc, của tinh thần bất khuất và của niềm tin vào tương lai Việt Nam – ngọn lửa mà thế hệ trẻ hôm nay có trách nhiệm giữ gìn và truyền lại cho mai sau.



