TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN TIỀN KHỞI NGHĨA SON SẮT, VẸN TOÀN
Trong lịch sử cách mạng vẻ vang của dân tộc, thế hệ những chiến sĩ tiền khởi nghĩa luôn là biểu tượng rực rỡ cho lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường và tinh thần cống hiến không mệt mỏi. Một trong những tấm gương mẫu mực, kiên trung ấy chính là cụ Nguyễn Văn Tứ. Từ một người thầy giáo nghèo nơi đất học Đức Thọ, Hà Tĩnh, đi qua muôn vàn gian khó từ phu lao dịch, lính thủy quân đến chiến sĩ Thanh niên Tiền phong bảo vệ chính quyền những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, cụ đã hiến dâng cả cuộc đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc và sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà.Cụ Nguyễn Văn Tứ xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Khổng Yên, xã Nghĩa Yên (nay là xã Đức Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) — vùng đất giàu truyền thống hiếu học và khoa bảng. Trong số 4 anh chị em, do hoàn cảnh khó khăn, chỉ duy nhất cụ được ưu tiên cắp sách đến trường. Năm 1937, sau khi hoàn thành chương trình tiểu học (Primaire), cụ phải nghỉ học do nhà quá nghèo. Giữa bầu không khí sục sôi của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), được các đảng viên và trí thức yêu nước trong làng dìu dắt, cụ tích cực tham gia vào đội thanh niên, văn hóa, văn nghệ. Đến năm 1939, cụ cùng thanh niên trong xã vận động nhân dân xây dựng Trường Tiểu học thôn Khổng Yên và vinh dự trở thành người thầy đầu tiên, mượn con chữ để truyền bá tinh thần yêu nước thương dân cho các thế hệ học trò.Sau 2 năm dạy học, vì gia cảnh thắt ngặt, cụ phải chia tay quê hương vào Đà Lạt làm thuê. Tại đây, cụ tham gia Hội Nghĩa Yên tương tế và tá túc tại "Nhà hội" cùng những người đồng hương. Ban ngày cụ làm phu xây dựng, đào đất, đổ đá nặng nhọc; đêm về lại thắp đèn dầu dạy chữ quốc ngữ cho anh em lao động, giúp nhiều người biết đọc biết viết và bén duyên với con đường cách mạng. Sau đó, cụ được nhận vào làm vườn rồi chuyển sang phụ bếp, pha cà phê tại khách sạn Langbiang Palace (khách sạn lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ). Tại xứ sở ngàn hoa, cụ tham gia hội "Ái hữu Nghệ Tĩnh" và chứng kiến sự hình thành của ấp Nghệ Tĩnh. Tuy nhiên, do vi phạm lệnh cấm của chủ khi lén cho nhân viên người Việt uống cà phê, cụ bị bếp trưởng phát hiện, đánh đập thậm tệ và đuổi việc.Rời Đà Lạt xuống Nha Trang tìm sinh kế, cụ Nguyễn Văn Tứ bị phát xít Pháp bắt đi lính hải quân do có vóc dáng cao lớn, khỏe mạnh và bị đưa vào Sài Gòn huấn luyện. Tại đây, bước ngoặt tư tưởng lớn lao đã đến khi cụ gặp gỡ những người đồng hương Nghệ Tĩnh kiên trung như ông Bùi Cửu, ông Vương Thúc Cương (cháu ngoại cụ Phan Bội Châu). Họ đã truyền bá lý tưởng Cộng sản sâu sắc, giúp cụ thấu rõ bản chất bạo tàn của thực dân. Sau khóa huấn luyện, cụ bị đưa xuống tàu tuần tra ven biển, kênh rạch Nam Bộ và Biển Hồ Campuchia. Sống trong cảnh lính Việt bị khinh miệt, ngược đãi, lòng căm thù giặc trong cụ ngày càng sôi sục.Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật đảo chính Pháp. Nhân lúc hỗn loạn khi quân Nhật bắt giam lính Pháp và lính An Nam làm lao dịch, cụ Tứ đã mưu trí trốn thoát khỏi trại giam, tìm về vùng Hòa Hưng (Sài Gòn - Chợ Lớn). Tại đây, cụ bắt được liên lạc với các đồng chí cách mạng và được giới thiệu vào lực lượng Thanh niên Tiền phong. Cụ hăng hái hòa mình vào công tác tuyên truyền chủ trương của Việt Minh, tham gia biểu tình đấu tranh chính trị để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Ngày 25/8/1945, cụ hiên ngang đi trong đoàn quân tiên phong giành chính quyền tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Đến ngày 2/9/1945, cụ sát cánh cùng đồng đội làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho cuộc mít tinh biểu dương lực lượng của hơn 2 triệu đồng bào Nam Bộ nhân ngày Độc lập.Khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ (23/9/1945), cụ Nguyễn Văn Tứ trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ mặt trận Cầu Kiệu, Chùa Bà Đàm, Bà Chiểu, rồi rút về Biên Hòa tham gia huấn luyện tại Trại du kích Vĩnh Cửu — lực lượng vũ kích đầu tiên của Biên Hòa. Tháng 11/1945, do hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, cụ được chấp thuận ra Bắc trở về quê nhà. Tại Đức Thọ, cụ tiếp tục lao vào công tác huấn luyện dân quân du kích và làm Trưởng ban Bình dân học vụ. Với những cống hiến không ngừng nghỉ, đầu năm 1948, cụ vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; một năm sau, người bạn đời của cụ — bà Nghiêm Thị Châu cũng được đứng vào hàng ngũ của Đảng.Từ cuối năm 1950 đến khi nghỉ hưu, cụ liên tục được Đảng và Nhà nước tín nhiệm giao nhiều trọng trách: Cán bộ Tỉnh Hội Nông dân cứu quốc Hà Tĩnh, cán bộ Sở Mậu dịch Hà Tĩnh, và được điều động ra Nghệ An để xây dựng Công ty Xuất nhập khẩu Bến Thủy vào năm 1955. Trong những năm tháng chiến tranh phá hoại tàn khốc của đế quốc Mỹ, gia đình cụ chịu tổn thất nặng nề: một người con trai hy sinh, vợ bị thương, nhà cửa bị bom đánh sập hoàn toàn. Dẫu đau thương chồng chất, cụ Tứ vẫn đặt việc công lên trên hết, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và là tấm gương lao động mẫu mực cho toàn thể cán bộ, công nhân noi theo.Năm 1980, cụ Nguyễn Văn Tứ chính thức về nghỉ hưu sau khi đã cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân và xương máu cho cả hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Ghi nhận những công lao to lớn ấy, Đảng và Nhà nước đã trân trọng trao tặng cụ:Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng BaHuân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng NhấtDanh hiệu cao quý Cán bộ Tiền khởi nghĩaĐến nay, với chặng đường sắt son trọn vẹn 74 năm tuổi Đảng, cuộc đời cụ Nguyễn Văn Tứ chính là pho sử sống động về lòng trung thành vô hạn với Đảng, với nhân dân. Tấm gương của cụ từ người thầy giáo gieo chữ đến người chiến sĩ kiên trung ngoài mặt trận và người cán bộ mậu dịch tận tụy thời bình sẽ mãi là ngọn đuốc sáng soi đường, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về bài học đạo đức cách mạng, lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm đối với công cuộc xây dựng Tổ quốc đất nước.


