TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI CỦA NHÀ YÊU NƯỚC HUỲNH THÚC KHÁNG
Huỳnh Thúc Kháng là một nhà yêu nước, nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, nổi bật với tinh thần yêu nước, chính trực và kiên cường. Ông cũng từng giữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946.

TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI CỦA NHÀ YÊU NƯỚC HUỲNH THÚC KHÁNG
Huỳnh Thúc Kháng là một nhà yêu nước, nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, nổi bật với tinh thần yêu nước, chính trực và kiên cường. Ông cũng từng giữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946.
Đà Nẵng24/08/2026Xã Nghi Xuân (Xã Nghi Xuân)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI CỦA NHÀ YÊU NƯỚC HUỲNH THÚC KHÁNG
Huỳnh Thúc Kháng là một nhà yêu nước, nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, nổi bật với tinh thần yêu nước, chính trực và kiên cường. Ông cũng từng giữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946.
Huỳnh Thúc Kháng (chữ Hán: 黃叔沆, tên thật là: Huỳnh Văn Thước, 1 tháng 10 năm 1876 – 21 tháng 4 năm 1947) tự Giới Sanh, hiệu Mính Viên (hay đôi khi được viết là Minh Viên), là một chí sĩ yêu nước và chính khách người Việt Nam. Ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ giai đoạn 1946–1947 và Quyền Chủ tịch nước, Quyền Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (giai đoạn từ 1 tháng 5 đến 20 tháng 10 năm 1946, trước đó ông từng giữ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ thời Pháp thuộc.

Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp là những nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân. Vì lý do đó, ông bị bắt trong năm 1908, rồi bị đày ở Côn Đảo suốt 13 năm, đến mãi năm 1921 mới được trả tự do.
Năm 1926, Huỳnh Thúc Kháng đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trong ba năm hoạt động ở Viện, với tư cách Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ ông đưa ra những thỉnh cầu nhằm sửa đổi một số điều luật nhằm giảm thuế rượu, thuế muối, phổ cập chữ quốc ngữ… thì bị chính quyền thực dân Pháp bác bỏ. Ông đã tranh luận gay gắt với Khâm sứ Trung Kỳ. Sau cuộc tranh luận đó, ông tuyên bố từ chức Viện trưởng.
Năm 1927, Huỳnh Thúc Kháng cùng Đào Duy Anh sáng lập tờ báo Tiếng Dân, được xuất bản tại Huế, và bị chính quyền thời bấy giờ đình bản năm 1943. Báo Tiếng Dân đòi mở mang giáo dục, canh nông, phản ánh thực trạng xã hội, đòi tự do báo chí, bảo vệ thuần phong mỹ tục… Báo còn là cơ quan ngôn luận công khai của phong trào yêu nước và là một diễn đàn chính trị. Trong suốt 16 năm tồn tại, báo Tiếng Dân trở thành tiếng nói bênh vực quyền lợi của nhân dân, phơi bày những bất công xã hội, phản đối sưu cao thuế nặng, góp phần vào việc nâng cao sự giác ngộ chính trị của người dân. Trong khi làm báo Tiếng Dân, vào năm 1935, ông bị Đảng Cộng sản Đông Dương xem là quốc gia cải lương "trong lúc kinh tế khủng hoảng cũng giả ra bộ xăng xe "phản đối đế quốc" là người chủ của chúng để cướp ảnh hưởng trong quần chúng, để củng cố nền thống trị của đế quốc phong kiến, và để bán mình cho cao giá.
Cách mạng tháng 8 thành công, Huỳnh Thúc Kháng quyết định nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Chính phủ Liên hiệp lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Theo sử gia Trần Trọng Kim thì trong thời gian này, khi được hỏi về công việc, Huỳnh Thúc Kháng đã nói: "Bây giờ việc gì cũng do địa phương tự trị cả, thành ra không có việc gì mấy, và khi có việc gì, thì họ làm sẵn xong cả rồi, tôi chỉ có vài chữ ký mà thôi".
Năm 1946, khi Hồ Chí Minh sang Pháp để tham dự Hội nghị Fontainebleau, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Cuối năm 1946, ông là Đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 21 tháng 4 năm 1947, Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng và mất tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, khi vẫn còn đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tang lễ của ông được tổ chức theo nghi thức Quốc tang do Hồ Chí Minh làm trưởng ban lễ tang. Làm theo tâm nguyện của ông, nhân dân đã an táng ông trên đỉnh núi Thiên Ấn, nơi được mệnh danh là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi. Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng tại xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, Quảng Nam vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ vật có giá trị, được một người cháu nuôi trong dòng tộc bảo quản.
Ngày 19 tháng 2 năm 2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký quyết định truy tặng Huân chương Sao Vàng để ghi nhận những đóng góp của ông đối với đất nước.



