Anh hùng Lực lượng vũ trang

Tám lần vượt làn đạn mang cơm lên đồi D2

Lo bộ đội giữ đồi D2 kiệt sức vì đói khát, chiến sĩ nuôi quân Đinh Văn Mẫu buộc ống bương đựng canh bên sườn, tám lần vượt qua hỏa lực địch để mang cơm và nước đến trận địa.

Phú Thọ22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong Bảo tàng Hậu cần Quân đội có một hiện vật rất nhỏ nếu đặt cạnh súng, pháo và những phương tiện từng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đó là một ống bương dài 28 centimét, đường kính khoảng 10 centimét. Trên thân ống có hai lỗ nhỏ để luồn dây; phía trên là miệng tròn rộng chừng ba centimét.

Lớp vỏ bên ngoài đã sẫm màu vì khói bếp.

Chiếc ống không bắn được một viên đạn nào. Nó được dùng để đựng canh và nước uống. Nhưng trong một ngày chiến đấu ác liệt tại đồi D2, người chiến sĩ mang chiếc ống ấy đã tám lần vượt qua hỏa lực đối phương để tiếp tế cho đồng đội.

Người đó là Đinh Văn Mẫu, chiến sĩ nuôi quân của Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312.

Đinh Văn Mẫu là người dân tộc Mường, sinh năm 1922 tại xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Trong hồ sơ quân đội, năm sinh của ông được ghi là 1924. Ông nhập ngũ năm 1947 và làm nhiệm vụ nuôi quân – công việc thường được bộ đội gọi bằng cái tên gần gũi là “anh nuôi”.

Người chiến sĩ nuôi quân không trực tiếp cầm súng xung phong vào cứ điểm, nhưng mỗi trận đánh của đơn vị đều bắt đầu từ bếp. Họ phải tìm đủ gạo, thực phẩm và chất đốt; nấu cơm đúng giờ rồi đưa tới trận địa. Khói bếp không được để lộ vị trí. Cơm phải giữ được độ nóng, nước phải đủ dùng và mọi thứ phải đến tay chiến sĩ trước giờ nổ súng.

Trong chiến tranh, chỉ một con đường bị pháo kích hoặc một dòng suối dâng cao cũng có thể khiến cả đơn vị phải bước vào trận đánh với chiếc bụng rỗng.

Trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt tháng 9 năm 1951, có lần Đinh Văn Mẫu mang cơm ra trận địa nhưng đơn vị đã tiến xa để truy kích đối phương. Ông động viên đồng đội lần theo tiếng súng, tìm bằng được vị trí bộ đội đang chiến đấu để giao cơm.

Đến Chiến dịch Hòa Bình cuối năm 1951, đơn vị có lúc phải nhịn đói hai ngày. Gần nơi đóng quân có một khoảnh sắn nhưng lại nằm sát khu vực đối phương kiểm soát. Đinh Văn Mẫu xin phép đi tìm lương thực, đào được hai gánh sắn đem về giúp bộ đội vượt qua cơn đói.

Trong Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, nước suối dâng cao và chảy xiết, ngăn đường vận chuyển cơm. Mẫu vượt sang bờ bên kia trước, buộc dây rừng qua dòng nước để anh em bám theo, đưa được lương thực tới đơn vị trước giờ chiến đấu.

Những việc ấy khiến ông hiểu rằng người lính ngoài trận địa không chỉ cần cơm. Canh và nước uống cũng quan trọng không kém, đặc biệt khi phải chiến đấu nhiều giờ trong hầm hào chật hẹp.

Trong một lần đi tìm măng rừng, Mẫu phát hiện một cây bương lớn. Ông cắt thân cây thành từng đoạn, đục lỗ luồn dây và làm nút đậy. Chiếc ống bương vừa bền, vừa dễ mang theo, có thể đựng canh hoặc nước mà không cần sử dụng chai lọ vốn rất khan hiếm.

Đầu năm 1954, Đại đoàn 312 tiến vào mặt trận Điện Biên Phủ. Ngay trước ngày chiến dịch mở màn, Đinh Văn Mẫu được kết nạp vào Đảng.

Trong đợt tiến công thứ hai, Trung đoàn 209 được giao đánh các cứ điểm thuộc dãy đồi phía đông. Một bộ phận của đơn vị phòng ngự tại đồi D2. Trên con đường từ D1 sang D2, quân Pháp bố trí súng máy 12,7 milimét, liên tục quét đạn xuống mọi vị trí có dấu hiệu di chuyển.

Đường tiếp tế gần như bị khóa chặt.

Đinh Văn Mẫu biết những người đang giữ đồi D2 đã chiến đấu nhiều giờ. Nếu tiếp tục chịu đói và khát, sức chiến đấu của họ sẽ giảm nhanh chóng. Ông quyết định tìm cách đưa cơm qua.

Mẫu bọc những nắm cơm trong tấm vải nhựa, phủ một lớp vải dù ngụy trang bên ngoài. Canh được đổ vào chiếc ống bương, nút kín bằng lá rồi buộc sát bên sườn. Ông bò ra đầu trận địa, nằm chờ khoảng ngừng giữa những loạt đạn.

Khi tiếng súng máy vừa ngớt, Mẫu bật dậy lao đi. Nhưng lính đối phương trên cao nhanh chóng phát hiện bóng người và lập tức bắn xuống.

Ông nằm ép sát mặt đất. Để không làm đổ canh, Mẫu chuyển sang tư thế nằm ngửa, dùng chân đạp đất, từng chút đẩy cơ thể tiến lên và kéo gói cơm theo sau. Cách di chuyển ấy giúp ông hạ thấp mục tiêu nhưng rất chậm.

Sốt ruột vì đồng đội đang chờ, ông xoay người bò sấp để đi nhanh hơn. Chiến hào quá nông khiến phần lưng nhô lên khỏi mặt đất. Một quả đạn pháo nổ gần đó, sức ép làm Mẫu choáng váng rồi bất tỉnh.

Khi tỉnh lại, xung quanh vẫn đặc khói. Ông kiểm tra gói cơm và chiếc ống bương, sau đó vác tất cả chạy về phía trước, lao xuống đoạn chiến hào sâu của trận địa.

Những chiến sĩ trên đồi D2 đã theo dõi hành trình ấy trong hồi hộp. Thấy Mẫu còn sống và mang được cơm tới nơi, họ chạy lại ôm lấy người anh nuôi vừa thoát khỏi làn đạn.

Nhưng cơm chỉ có 40 nắm, không đủ chia mỗi người một phần. Người chỉ huy dự định để hai chiến sĩ ăn chung một nắm. Đinh Văn Mẫu lập tức xin quay lại lấy thêm.

Vì đường quá nguy hiểm, chỉ huy không đồng ý. Mẫu không tranh luận. Ông lặng lẽ bò ra khỏi chiến hào, quay về đồi D1.

Chuyến thứ hai rồi chuyến thứ ba tiếp tục. Khi nằm xuống tránh đạn, lúc lao nhanh qua quãng trống, Mẫu đưa thêm cơm, thức ăn và nước uống đến chốt. Tổng cộng trong ngày hôm ấy, ông đi lại tám lần giữa D1 và D2.

Chiếc ống bương vẫn giữ được canh. Những người lính chuyền tay nhau, mỗi người uống một ngụm nhỏ. Giữa khói súng và đất đá, chút canh ấy không phải một bữa ăn đầy đủ, nhưng giúp họ bớt khát và lấy lại sức để tiếp tục giữ trận địa.

Sau chuyến cuối, Đinh Văn Mẫu trở về bếp và bắt tay nấu bữa chiều. Ông không ngồi nghỉ dù vừa tám lần đi qua khu vực bị súng máy khống chế.

Tối hôm đó, tin chiến thắng truyền về: bộ đội ta đã chiếm được đỉnh đồi. Trong khi những người ở bếp vui mừng vì phần cơm tiếp tế đã góp sức cho trận đánh, điều Mẫu nghĩ đến lại rất giản dị: đường đã dễ đi hơn, ngày mai ông có thể mang nhiều canh và nước lên cho bộ đội.

Đinh Văn Mẫu tiếp tục phục vụ đơn vị trong suốt Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau chiến dịch, ông được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba; được trung đoàn và đại đoàn khen thưởng chín lần, đồng thời được bầu là Chiến sĩ thi đua của Đại đoàn 312.

Ngày 7 tháng 5 năm 1956, đúng hai năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Tháng 11 năm 1996, khi về Hà Nội dự Hội nghị Nuôi quân giỏi toàn quân lần thứ hai, Đinh Văn Mẫu đến thăm Bảo tàng Hậu cần Quân đội. Tại đây, ông gặp lại chiếc ống bương từng buộc bên sườn mình hơn bốn mươi năm trước.

Hiện vật mang số đăng ký BTHC 1133/ĐM-62. Trên thân không có những dòng chữ lớn, chỉ có màu đen của khói bếp và dấu vết thời gian. Nhưng từ chiếc ống ấy có thể hình dung một phần của Điện Biên Phủ mà những bản đồ tác chiến ít khi thể hiện: phía sau mỗi mũi tiến công là những người nấu cơm, gùi nước và bò qua làn đạn để đồng đội không phải chiến đấu trong đói khát.

Đinh Văn Mẫu được phong anh hùng không phải vì đã tiêu diệt bao nhiêu quân địch. Ông được ghi nhận vì đã thực hiện đến cùng một lời hứa thầm lặng của người làm công tác hậu cần: còn người lính giữ trận địa thì bếp vẫn phải đỏ lửa, cơm và nước vẫn phải được đưa lên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn