TẤM LÒNG SON VỚI NON SÔNG: BẢN TRƯỜNG CA VỀ NHỮNG NGƯỜI ÂM THẦM DỰNG XÂY CƠ ĐỒ DÂN TỘC
Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước oanh liệt của dân tộc Việt Nam, bên cạnh những chiến công hiển hách ngoài tiền tuyến của lớp lớp chiến sĩ áo vải nơi đầu súng đạnbom, còn có một mặt trận thầm lặng nhưng đóng vai trò huyết mạch sống còn: mặt trận của lòng dân. Đó là nơi hội tụ của hàng triệu con người bình dị, từ những người mẹ nghèo đào hầm nuôi giấu cán bộ, những người nông dân chân chất nhường từng củ sắn cho bộ đội, đến những nhà tư sản giàu sang sẵn sàng đem toàn bộ gia sản hiến dâng cho Tổ quốc mà không hề toan tính thiệt hơn.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu từng căn dặn một chân lý bất hủ: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong." Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh chân lý ấy bằng biết bao tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước nồng nàn. Trong số những biểu tượng cao đẹp được Đảng, Nhà nước và Nhân dân đời đời ghi nhớ, câu chuyện về cụ Trịnh Văn Bô và cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ – những nhà tư sản yêu nước nức tiếng Hà Thành – đã trở thành một bản thiên anh hùng ca bất tử về tinh thần đại nghĩa, lòng quả cảm và sự hy sinh vô điều kiện cho nền độc lập, tự do của nước nhà.
Ngược dòng lịch sử về những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi, phố Hàng Ngang khi ấy là thủ phủ buôn bán sầm uất bậc nhất của đất kinh kỳ Hà Nội. Tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, hiệu buôn tơ lụa Phúc Lợi của gia đình cụ Trịnh Văn Bô và cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ nức tiếng gần xa bởi chữ tín trọn vẹn và sự giàu có đáng nể. Là những thương gia thành đạt bậc nhất thời bấy giờ, gia đình cụ sở hữu một khối tài sản khổng lồ cùng nhiều bất động sản giá trị trải dài khắp kinh thành và các tỉnh lân cận. Sống trong cảnh nhung lụa đủ đầy, nhưng trước cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến đồng bào mình quằn quại dưới ách gông xiềng tàn bạo của thực dân và phát xít, đôi vợ chồng thương nhân thấu hiểu sâu sắc một điều rằng: khi Tổ quốc còn chìm trong đêm tối nô lệ thì dẫu giàu sang phú quý đến đâu cũng chỉ là sống trong tủi nhục.
Giữa lúc phong trào cách mạng còn hoạt động bí mật và bị kẻ thù rình rập, lùng sục gắt gao, gia đình cụ đã sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản qua sự dẫn dắt của các chiến sĩ Việt Minh kiên trung như đồng chí Nguyễn Lương Bằng, đồng chí Khuất Duy Tiến. Kể từ thời khắc mở rộng cánh cửa đón nhận ánh sáng của Đảng, ngôi nhà buôn tơ lụa phồn hoa giữa phố cổ đã chính thức trở thành một “địa chỉ đỏ” an toàn tuyệt đối, che chở và chở che cho những hạt giống đỏ của phong trào giải phóng dân tộc.
Mùa thu năm 1945, thời khắc chuyển giao vận mệnh thiêng liêng của non sông đã điểm. Sau khi rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã được bí mật bố trí về ở và làm việc tại tầng hai của ngôi nhà số 48 Hàng Ngang từ ngày 25 tháng 8 đến đầu tháng 9 năm 1945. Trong những ngày sục sôi không khí tiền khởi nghĩa ấy, cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ cùng gia đình đã quán xuyến từng bữa ăn, manh áo, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người đứng đầu cách mạng cùng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt. Giữa lòng phố thị nhộn nhịp, tầng một của ngôi nhà vẫn mở cửa giao thương tấp nập để khéo léo che mắt mật thám Pháp, còn tầng trên lại chính là cơ quan đầu não chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa long trời lở đất.
Cũng chính từ xấp vải kaki thượng hạng của hiệu buôn Phúc Lợi và bàn tay may vá khéo léo, chu đáo của gia đình cụ, bộ quần áo kaki bình dị nhưng trang trọng của Bác Hồ đã ra đời — bộ trang phục đã cùng Người bước lên lễ đài Ba Đình lịch sử trong ngày hội non sông. Đặc biệt hơn cả, chính tại gian phòng gác hai tĩnh lặng của ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dồn tâm huyết viết nên bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới rạng rỡ cho toàn thể dân tộc Việt Nam.
Sau ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9, đất nước ta đứng trước tình thế hiểm nghèo chưa từng thấy, tựa như "ngàn cân treo sợi tóc". Nạn đói, nạn dốt và thù trong giặc ngoài đồng loạt bủa vây, trong khi ngân khố quốc gia gần như trống rỗng với vỏn vẹn hơn một triệu đồng Đông Dương rách nát, phần lớn lại không thể lưu hành. Hưởng ứng lời kêu gọi thiết tha của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời trong "Tuần lễ Vàng" vào tháng 9 năm 1945, vợ chồng cụ Trịnh Văn Bô đã có một nghĩa cử phi thường làm rung động hàng triệu trái tim người Việt. Gia đình cụ đã tự nguyện ủng hộ trực tiếp cho cách mạng tới 5.147 lượng vàng, con số khổng lồ tương đương với hơn 90% tổng số ngân khố của Chính phủ lúc bấy giờ.
Không dừng lại ở đó, hai cụ còn vận động giới công thương Hà Nội đóng góp tiền của, tích cực mua tín phiếu ái quốc, ủng hộ Quỹ Độc lập và hiến tặng chính ngôi nhà 48 Hàng Ngang cho Nhà nước để lưu giữ muôn đời. Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ vào mùa đông năm 1946, bỏ lại sau lưng toàn bộ cơ ngơi bạc vàng, nhung lụa chốn đô thành, gia đình cụ đã bồng bế con cái theo Đảng lên chiến khu Việt Bắc gian khổ, tiếp tục dốc lòng đem tài lực, công sức và trí tuệ phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc cho đến ngày non sông thu về một mối.
Những cống hiến to lớn, trong sáng và không màng danh lợi của gia đình cụ Trịnh Văn Bô và cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ chính là biểu tượng rực rỡ cho tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, một lòng vì nước quên thân. Ghi nhận công lao vĩ đại ấy, Đảng và Nhà nước đã trân trọng trao tặng hai cụ Huân chương Độc lập hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Tên tuổi của cụ Trịnh Văn Bô đã được trang trọng khắc ghi trên một tuyến đường lớn tại Thủ đô Hà Nội, và ngôi nhà số 48 Hàng Ngang đã trở thành Di tích Lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt quan trọng — nơi lưu giữ ngọn lửa yêu nước nồng nàn để giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ muôn đời sau.
Soi rọi vào trang sử hào hùng và tấm gương sáng ngời của những người có công giúp đỡ cách mạng, thế hệ trẻ và đoàn viên thanh niên hôm nay không khỏi dâng trào niềm xúc động, lòng biết ơn vô hạn cùng niềm tự hào dân tộc sâu sắc. Tấm gương hiến dâng của thế hệ cha anh đi trước chính là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở tuổi trẻ hôm nay về trách nhiệm thiêng liêng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Trước hết, mỗi đoàn viên thanh niên cần phải xây dựng cho mình một bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Trong bối cảnh thông tin đa chiều và những diễn biến phức tạp của thời đại, người trẻ phải rèn luyện cho mình nhãn quan sắc bén, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, giữ vững lập trường tư tưởng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" phải được hiện thực hóa qua những hành động cụ thể: chăm sóc các gia đình chính sách, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, tri ân những người có công với nước bằng tất cả tình cảm chân thành và trách nhiệm của tuổi trẻ.
Hơn thế nữa, bài học từ tấm gương cụ Trịnh Văn Bô nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết nuôi dưỡng tinh thần cống hiến vô điều kiện và khát vọng phụng sự cộng đồng. Tuổi trẻ phải biết vượt lên trên những toan tính cá nhân, lối sống thực dụng hay chủ nghĩa ích kỷ hẹp hòi; biến lòng yêu nước thành tinh thần xung kích, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc và Nhân dân cần đến, từ biên cương xa xôi đến hải đảo đầu sóng ngọn gió. Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, tinh thần yêu nước ấy còn phải được thể hiện mạnh mẽ qua ý chí vươn lên làm chủ khoa học - công nghệ, nỗ lực học tập và lao động sáng tạo. Mỗi thanh niên cần phấn đấu trở thành những công dân ưu tú, những trí thức tiên phong, những doanh nhân dũng cảm kiến tạo giá trị mới, góp phần nâng cao tiềm lực quốc gia và đưa vị thế Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Thời gian có thể trôi đi, mọi thứ có thể đổi thay theo năm tháng, nhưng tấm lòng vàng son vì độc lập dân tộc của những người con yêu nước kiên trung như cụ Trịnh Văn Bô và cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ sẽ mãi mãi là ngọn lửa sáng ngời trong tâm khảm của non sông. Kế thừa và phát huy truyền thống quý báu ấy, tuổi trẻ và đoàn viên thanh niên Việt Nam hôm nay xin nguyện khắc cốt ghi tâm công lao trời biển của các thế hệ tiền bối, không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, rèn đức luyện tài, quyết tâm đem tất cả nhiệt huyết và trí tuệ của mình dựng xây một nước Việt Nam hòa bình, giàu đẹp, văn minh và phồn vinh như sinh thời Bác Hồ hằng mong ước.



