Khác

TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại của quân, dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đưa đến thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến, đồng thời có tiếng vang, có ảnh hưởng to lớn trên thế giới, đặc biệt là đối với các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, tự do. Chiến thắng Điện Biên Phủ là thành quả chung của quân, dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là kết quả sự chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Bài viết này đề cập về tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc, vị thống lĩnh tối cao, Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, với ý nghĩa là một trong những nhân tố đã góp phần quyết định làm nên chiến thắng lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Điện Biên06/08/2026Đoàn Thanh niên Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh (Đoàn Thanh niên Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại của quân, dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đưa đến thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến, đồng thời có tiếng vang, có ảnh hưởng to lớn trên thế giới, đặc biệt là đối với các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, tự do. Chiến thắng Điện Biên Phủ là thành quả chung của quân, dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là kết quả sự chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Bài viết này đề cập về tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc, vị thống lĩnh tối cao, Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, với ý nghĩa là một trong những nhân tố đã góp phần quyết định làm nên chiến thắng lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Chiến thắng Điện Biên Phủ thể hiện trước hết ở quyết định của Người và Trung ương Đảng ta khi xác định chủ trương, đường lối quân sự của quân, dân Việt Nam trong Đông Xuân 1953 - 1954. Trước âm mưu mới của thực dân Pháp trong Kế hoạch Nava là tập trung xây dựng khối quân cơ động để đối phó với chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam, giành lại thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, xoay chuyển tình thế có lợi cho quân Pháp, tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Hội nghị, sau khi nghe báo cáo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tình hình và âm mưu, thủ đoạn mới của địch, Người đã nêu ý kiến: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ!

Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn” - bàn tay Người mở ra, mỗi ngón tay chỉ về một hướng”.

Xuất phát từ tỉnh hình thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đã xác định chủ trương tác chiến trong Đông Xuân 1953 - 1954 là: “Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch và tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ””. Đây là quyết định hoàn toàn đúng đắn đã được minh chứng bởi thực tiễn chiến trường sau đó. Trước những binh đoàn cơ động của quân Pháp, quân ta đã không chọn địa bàn tác chiến ở vùng đồng bằng, nơi địch có nhiều lợi thế dễ phát huy được sức mạnh của những loại vũ khí hiện đại vượt trội, mà chọn tiến công vào những vị trí hiểm yếu, có tầm quan trọng chiến lược kẻ địch không thể bỏ, buộc chúng phải phân tán lực lượng ra để đối phó. Từ đó, quân Pháp tiếp tục bị đẩy vào mâu thuẫn không thể giải quyết giữa phân tán và tập trung, giữa rải quân ra để chiếm giữ đất đai và tập trung xây dựng lực lượng cơ động chiến lược nhằm đối phó với bộ đội chủ lực của ta.

Tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Chiến thắng Điện Biên Phủ cũng được thể hiện ở quyết định đúng đắn của Người và Trung ương Đảng chọn Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược và tư tưởng chỉ đạo phương pháp tác chiến trận quyết chiến chiến lược này. Kết tinh và luôn nêu cao khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực hoạt động và thể hiện thiện chí của nhân dân Việt Nam nhằm tránh cho hai dân tộc Pháp và Việt Nam một cuộc chiến tranh và xây dựng quan hệ hữu nghị tốt đẹp mới. Nhưng trước dã tâm của thực dân Pháp muốn cướp nước ta một lần nữa, nhân dân Việt Nam đã phải tiến hành cuộc kháng chiến để bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Dù phát động toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống kẻ địch xâm lược, nhưng Người vẫn nêu cao thiện chí hòa bình của quân, dân Việt Nam và xác định quân, dân Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa là để bảo vệ độc lập, tự do, hạnh phúc, lập lại hòa bình của đất nước. Ngày 26 tháng 11 năm 1953, khi trả lời phỏng vấn của một nhà báo Thụy Điển. Người đã tuyên chiến tranh ở Việt Nam phải cầm vũ khí anh dũng chiến đấu bảy, tám năm nay chống kẻ xâm lược chính để bảo vệ nền độc lập và quyền tự do được sống hòa bình. Hiện nay nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó”.

Song, là một nhà hoạt động chính trị giàu kinh nghiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng, con đường đi đến đàm phán hòa bình không hề giản đơn, thắng lợi trên bàn đàm phán phải dựa trên thực lực, bởi “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Điều này càng đúng với những kẻ địch hung bạo, ỷ vào sức mạnh của bom đạn, của cường quyền. Chúng chỉ chịu ngồi vào bàn đàm phán khi bị đánh bại trên chiến trường. Một chiến thắng quân sự quyết định sẽ mở ra một cục diện mới cho cuộc kháng chiến, hơn nữa sẽ là cơ sở quyết định việc giành thắng lợi trên bàn đàm phán để kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình.

Tuy nhiên, ở thời điểm đó để đưa ra được quyết định lựa chọn trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ là điều không hề dễ dàng. Bởi lẽ thực dân Pháp đã tập trung những đơn vị rất mạnh, rất thiện chiến ở Điện Biên Phủ. Đồng thời, để có thể tiến công vào các vị trí của quân Pháp, quân ta sẽ phải vượt qua một hệ thống các cứ điểm liên hoàn, được xây dựng kiên cố và nằm trên vị trí khá trống trải ở cánh đồng Mường Thanh, nơi hỏa lực vượt trội của quân Pháp có điều kiện thuận lợi để phát huy. Tập đoàn cứ điểm là một hình thái phòng ngự mới của quân Pháp mà quân ta chưa có nhiều kinh nghiệm đối phó. Mặt khác, điều kiện giao thông hết sức khó khăn của vùng rừng núi Tây Bắc sẽ khiến cho công tác hậu cần trở nên rất phức tạp khi phải đảm bảo nhu cầu cho một lực lượng lớn bộ đội và càng phức tạp hơn nữa nếu chiến dịch diễn ra trong nhiều ngày; trong khi đó quân địch có điều kiện thuận lợi trong vận tải đường không với hai sân bay ở Mường Thanh và Hồng Cúm. Tuy nhiên, có tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mới phá được hình thức phòng ngự cao nhất của địch, đánh bại Kế hoạch Nava và âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Điện Biên Phủ nằm ở vùng rừng núi là địa bàn tác chiến thuận lợi với quân ta và có nhiều bất lợi đối với quân địch khi bị cô lập và cách xa những vùng căn cứ của địch, chỉ có thể tiếp nhận sự tiếp tế bằng đường không. Với sự trưởng thành vượt bậc trong quá trình chiến đấu, lại có hậu phương rộng lớn chi viện, dù vấn đề hậu cần có khó khăn rất lớn nhưng quân, dân ta có thể khắc phục và giành thắng lợi. Trên cơ sở phân tích sâu sắc tương quan lực lượng về mọi mặt giữa ta và địch, thấy rõ cả những thuận lợi và khó khăn của ta và địch, ngày 6 tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đã họp, quyết định chọn Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược giữa ta và địch. Người chỉ đạo: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về mặt quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”. Đây là quyết định lịch sử mở ra chiến thắng vĩ đại của quân, dân ta thời gian sau đó.

Sau khi đã quyết định chọn Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược, vấn đề chỉ đạo tác chiến cũng hết sức quan trọng. Đây là chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt nên phương pháp tác chiến như thế nào được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng hết sức quan tâm. Trên thực tế, phương châm tác chiến của Chiến dịch Điện Biên Phủ đã được phê duyệt lúc đầu là “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương mẫu mực về việc chọn lựa và sử dụng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy. Người đã đặt niềm tin hoàn toàn vào Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy cao nhất trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và chú ý lắng nghe, nắm bắt, động viên, cho những ý kiến chỉ đạo hết sức quý báu kịp thời. Khi Đại tướng đến chào lên đường ra mặt trận, Người đã dặn: “Tổng Tư lệnh ra mặt trận, “Tướng quân tại ngoại”! Trao cho chú toàn quyền. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định, rồi báo cáo sau... Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh", Tư tưởng chỉ đạo này thực sự là kim chỉ nam, là nền tảng định hướng giúp Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra "quyết định khó khăn nhất" trong cuộc đời cầm quân của Đại tướng: Chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh", sang "đánh chắc, tiến chắc". Quyết định này đã có tác động hết sức quan trọng đến kết quả chiến dịch, đến cục diễn chiến trường và thậm chí là cả cuộc kháng chiến của quân, dân ta sau đó. Có những tướng lĩnh sau này nhớ lại, nếu không có quyết định quyết đoán và đầy tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước dân tộc đó, nhiều người chưa chắc có mặt trong kéo dài hàng chục năm nữa.

Tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Chiến thắng Điện Biên Phủ còn thể hiện ở việc Người đã nhận thức rõ và khơi dậy, phát huy thành công vai trò của sức mạnh tinh thần, của niềm tin chiến thắng và ý chỉ quyết chiến, quyết thắng của quân, dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ chống lại thực dân Pháp xâm lược. Ngay từ khi mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người đã nêu rõ quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ””. Người cũng truyền đi niềm tin: “Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”3.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, cùng với Trung ương Đảng, Người luôn chú trọng động viên, khích lệ quân, dân Việt Nam khắc phục mọi khó khăn, trở ngại, vượt qua gian khổ, hy sinh để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công và khẳng định cuộc kháng chiến của quân, dân ta nhất định sẽ giành được thắng lợi. Người chỉ rõ: “Ta phải có, và phải làm cho dân ta có Tín tâm và Quyết tâm. Dùng lời lẽ giản đơn, rõ rệt mà giải thích cho quần chúng. Cố rán sức qua khỏi mùa đông lạnh lẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân. Qua khỏi trận khủng bố ráo riết của địch, thì ta sẽ thắng lợi”; hoặc có khi Người dùng cách diễn đạt khác chỉ ra rằng: “Lực lượng của chúng (tức của thực dân Pháp - TG) cũng như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ””. Người cũng phân tích và chỉ ra thực tế: “Vì cuộc kháng chiến của ta là chính nghĩa, cho nên nhân dân Pháp và nhân dân các nước bị Pháp thống trị cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới ủng hộ ta, và đấu tranh ngày thêm mạnh chống cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam”.

Đồng thời, với tầm nhìn vượt trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú ý nhắc nhở quân, dân ta càng gần đến ngày thắng lợi, càng phải nỗ lực phấn đấu và nâng cao tinh thần cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá quyết liệt của kẻ địch: “Quân và dân ta phải luôn luôn ghi nhớ rằng: Lũ giặc cướp nước, chết thì chết, nết không chừa. Càng gần thất bại thì chúng càng hung ác. Do đó, càng gần thắng lợi thì ta càng gặp nhiều khó khăn. Quân và dân ta phải luôn luôn ghi nhớ: Kháng chiến nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ và gian khổ”.

Trong Đông Xuân 1953 - 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm tiên liệu và chỉ ra sự thất bại của Kế hoạch Nava. Tháng 11 năm 1953, trong bài thơ “Kế hoạch Nava, đầu voi đuôi chó”, Người đã nêu rõ sự thất bại tất yếu của kế hoạch này của thực dân Pháp, đồng thời nhắc nhở quân, dân ta: “Chúng ta chớ chủ quan/ Chúng ta chớ khinh địch/ Giặc có thể đột kích/ Chúng ta phải đề phòng/ Quân dân đoàn kết một lòng/ Kháng chiến thắng lợi, cờ hồng tung bay"3.

Tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến cán bộ, chiến sĩ mặt trận Điện Biên Phủ biểu dương, động viên và giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ: “Các chú phải chiến đấu anh dũng hơn, chịu đựng gian khổ hơn, phải giữ vững quyết tâm trong mọi hoàn cảnh: Quyết tâm tiêu diệt địch, Quyết tâm giữ vững chính sách, Quyết tâm tranh nhiều thắng lợi”. Tháng 3 năm 1954, chỉ một thời gian ngắn trước lúc quân ta nổ súng mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ, Người tiếp tục gửi thư động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ mặt trận Điện Biên Phủ, trong đó nêu rõ: “Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang”. Chỉ hai ngày sau khi quân ta giành thắng lợi trong đợt tiến công vào Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng gửi điện khen đến cán bộ, chiến sĩ và tiếp tục khẳng định: “Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của Quân đội ta, ta đánh thẳng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng”. Ngày 8 tháng 5 năm 1954, sau khi được tin quân ta giành thắng lợi rực rỡ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi đến cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào ở mặt trận Điện Biên Phủ “đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang”. Điều đáng chú ý trong bức thư là sau khi biểu dương thành tích vẻ vang của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, Người đã nhắc nhở: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn”3. Giữa lúc quân, dân ta vừa giành được chiến thắng rất to lớn, niềm vui và tinh thần lạc quan cách mạng đang lên cao, đây thực sự là lời nhắc nhở hết sức cần thiết, để cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân tránh chủ quan, tự mãn trước thắng lợi, ngủ quên trong vầng hào quang chiến thắng, quên mất những nhiệm vụ cách mạng đang còn tiếp tục phải thực hiện. Thực tế cách mạng Việt Nam sau đó đã minh chứng rõ sự tỉnh táo, nhìn xa trông rộng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này tổng kết: “Ba chữ Điện Biên Phủ đã làm cho tiếng tăm dân tộc Việt Nam ta lừng lẫy khắp năm châu... Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, một đế quốc hùng mạnh đã bị nhân dân một nước thuộc địa đánh cho tan tành tả tơi, và phải cút về nước... Ngoài việc đánh đuổi thực dân, kinh nghiệm kháng chiến thắng lợi nói chung và Điện Biên Phủ nói riêng, có hai ý nghĩa to lớn:

- Nó đã khuyến khích các nhân dân bị áp bức ở Á - Phi nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân, giành giải phóng dân tộc.

- Nó chứng tỏ rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ ta, và nhân dân ta đoàn kết nhất trí thì khó khăn gì cũng khắc phục được, công việc to lớn mấy cũng làm được”. Người còn chỉ ra rằng: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn".

Thắng lợi vĩ đại đó cũng là một trong những minh chứng tiêu biểu về tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình Người tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung, trong thắng lợi Điện Biên Phủ nói riêng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn