Khác

TÁM THÁNG ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỊCH KHỦNG BỐ CỦA CỨU QUỐC QUÂN

Trước những biến chuyển mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, đầu tháng 2 năm 1941, Hồ Chủ tịch về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5 năm 1941 với tư cách là đại biểu của Quốc tế cộng sản, Hồ Chủ tịch đã triệu tập Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng ở Pác Bó. Dưới sự chủ tọa của Hồ Chủ tịch, Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, chủ trương và chính sách mới của Đảng được phát triển về mọi mặt.

29/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, qua phân tích sâu sắc các mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam lúc đó, Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng nhất trí tán thành các nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu và lần thứ bảy. Đồng thời, Hội nghị lần thứ tám đã đề ra nhiều chủ trương và chính sách cụ thể, nhằm giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, động viên mọi tầng lớp nhân dân có lòng yêu nước tiến lên mặt trận đấu tranh cách mạng giành lại độc lập, tự do. Để tập hợp đông đảo hơn nữa các lực lượng, các tầng lớp nhân dân chống kẻ thù chủ yếu của dân tộc là phát xít Pháp, Nhật và bè lũ tay sai của chúng, Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, các tổ chức quần chúng yêu nước chống đế quốc gọi là Hội cứu quốc.

Về phương pháp cách mạng để giành lại độc lập và chủ quyền của đất nước, Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng khẳng định «Cuộc cách mạng Đông Dương, kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang»(1). Vì vậy, Hội nghị đề ra: «Chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng ta và dân ta trong giai đoạn hiện tại»(2).

Để thiết thực chuẩn bị khởi nghĩa, «Hội nghị Trung ương lần thứ tám đã quyết định lấy miền rừng núi Việt Bắc để xây dựng căn cứ vũ trang»(3), trước hết là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn — Võ Nhai. Căn cứ Cao Bằng do Hồ Chủ tịch và các đồng chí Vũ Anh, Hoàng Văn Hoan, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp phụ trách. Căn cứ Bắc Sơn — Võ Nhai do Ban thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo. Hội nghị lần thứ tám của Trung ương còn quyết định tăng cường cho căn cứ Bắc Sơn — Võ Nhai thêm một số cán bộ như các đồng chí Phùng Chí Kiên, Bế Sơn Cương, Mã Thành Kính, Đặng Văn Cáp, Trần Văn Phấn... Đồng chí Phùng Chí Kiên là ủy viên Trung ương Đảng, đồng thời là một cán bộ quân sự của Đảng, đã từng là chỉ huy Hồng quân Trung Quốc đánh Nhật, được cử về Bắc Sơn — Võ Nhai làm chỉ huy trưởng.

Đầu tháng 7 năm 1941, các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng cùng số cán bộ mà Trung ương tăng cường cho căn cứ Bắc Sơn — Võ Nhai về đến Bắc Sơn. Khi về đến Binh Gia đoàn đã thấy dấu hiệu của một cuộc khủng bố lớn. Khắp các ngả đường từ Bình Gia vào Bắc Sơn đều thấy có lính dõng, mật thám đi tuần và canh gác. Sở dĩ kẻ địch biết được cuộc hành trình của đoàn là do tên Công đi họp Hội nghị lần thứ tám, đi bằng con đường công khai về Hà Nội đã cung cấp tin tức cho địch. Do đó, ngày 30 tháng 6 năm 1941, sở mật thám Bắc-kỳ đã đưa một chi nhánh lên Đình Gả (châu Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên) để đón đường các đồng chí Thường vụ Trung ương về xuôi. Đến Đình Cả chúng lập phòng tra tấn tại chỗ để đàn áp, khủng bố nhân dân địa phương. Sở mật thám Bắc-kỳ còn chỉ thị cho các chi nhánh mật thám Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang tăng cường mạng lưới mật thám, thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhau để chặn đường hòng tóm gọn các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng. Tên trùm mật thám Lạng Sơn Đăng-vít (Denkwick) tức tốc đi lên Bắc Sơn đóng chốt ở xã Vũ Lễ. Đồng thời, thực dân Pháp tập trung binh lính dưới sự chỉ huy của những tên thực dân khét tiếng gian ác như Ba-rôn, Bút-kê, Bê-ra-da... tiến công căn cứ Bắc Sơn — Võ Nhai tử ba mặt. Một mặt từ Bắc Giang và một mặt từ Thái Nguyên tiến lên Võ Nhai. Một mặt khác từ Lạng Sơn tiến vào Bắc Sơn. Ngoài ra, thực dân Pháp còn tăng cường lực lượng đàn áp, khủng bố tại chỗ, đó là bọn dõng và mật thám ở các làng, xã. Với lực lượng như vậy, thực dân Pháp hi vọng rằng sẽ bắt gọn các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng, tiêu diệt hoàn toàn Cứu quốc quân và dập tắt phong trào cách mạng ở Bắc Sơn, Võ Nhai trong một thời gian ngắn. Trọng tâm cuộc khủng bố của địch lúc đầu là Bắc Sơn, sau đó chuyền dần xuống Võ Nhai. Từ đó, cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng bảo vệ Trung ương và phong trào cách mạng của Cứu quốc quân và nhân dân Bắc Sơn, Võ Nhai cũng bắt đầu.

(1) Văn kiện Đảng (1939 — 1945), Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1963, tr-211.
(2) Như trên, tr-393.
(3) Võ Nguyên Giáp Từ nhân dân mà ra, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr-84

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Cứu quốc quân« Trả lời #8 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2021, 02:58:06 pm »
Ngày 6 tháng 7 năm 1941, các đồng chí Thường vụ trung ương về đến xã Quỳnh Sơn (châu Bắc Sơn) thì gặp tụi mật thám chặn đường. Với tinh thần cảnh giác, được tổ Cứu quốc quân đi theo dẫn đường và nhân dân địa phương giúp đỡ, các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt đã an toàn rút vào cơ quan bí mật ở Lân Táy (xã Hữu Vĩnh). Tức tối vì chẳng bắt được ai, kẻ địch khủng bố nhân dân. Chúng bắt nhân dân địa phương nộp năm đồng tiền «phạt vạ» mỗi xuất đinh. Không nao núng tinh thần, nhân dân các bản Lân Táy, Mỏ Pja, Lân Pán... vẫn bí mật tiếp tế lương thực, thực phẩm và tổ chức bảo vệ các đồng chí Trung ương ở cơ quan Lân Táy. Bắt đầu từ đó, hàng ngày thực dân Pháp tung những đơn vị lính, dõng do bọn mật thám địa phương thông thuộc địa hình dẫn đường, lùng sục vào các làng bản, khu rừng, khe suối, hang đá ở Mỏ Pja, Mỏ Ruệ, Lũng Rào, Bản Ít, Khuôn Khát... để truy bắt cán bộ cách mạng. Chúng đi tới đâu thì bắt người, cướp của, đốt phá nhà cửa, ruộng vườn của đồng bào tới đó, để uy hiếp tinh thần của nhân dân.

Mặc dù địch mở cuộc khủng bố lớn, trong thời gian dừng chân ở Bắc Sơn, các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng đã tranh thủ truyền đạt nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Trung ương cho cán bộ địa phương, huấn luyện và đào tạo cán bộ. Tại cơ quan Lân Táy, các đồng chí Thường vụ Trung ương đã được trực tiếp nghe đồng chí Lương Văn Chi báo cáo tình hình phong trào cách mạng Bắc Sơn, Võ Nhai. Ban thường vụ Trung ương Đảng đã chỉ định Ban lãnh đạo mới của căn cứ địa Bắc Sơn — Võ Nhai đồng thời là ban chỉ huy đội Cứu quốc quân. Ban này gồm có các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi và Chu Văn Tấn, do đồng chí Phùng Chí Kiên là ủy viên Trung ương Đảng làm chỉ huy trưởng. Ban thường vụ Trung ương Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ của Cứu quốc quân là tích cực đấu tranh chống địch khủng bố, bảo vệ Trung ương và cơ sở cách mạng. Ban chỉ huy Cứu quốc quân chuyển đến vùng Khuổi Nọi, họp bàn và phân công thực hiện chỉ thị của Trung ương. Đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Lương Văn Chi ở Bắc Sơn lãnh đạo nhân dân và chỉ huy Cứu quốc quân đấu tranh chống địch khủng bố, bảo vệ Trung ương. Đồng chí Chu Văn Tấn về Võ Nhai để cùng các đồng chí cán bộ nòng cốt ở địa phương lãnh đạo nhân dân và Cứu quốc quân đấu tranh, chuẩn bị cơ quan bí mật để Trung ương rút xuống đây, tổ chức đường liên lạc để đưa các đồng chí Trung ương về xuôi an toàn.

Kẻ địch săn lùng ráo riết. Được Cứu quốc quân và quần chúng cách mạng bảo vệ, giúp đỡ, ngày 21 tháng 7 năm 1941, các đồng chí Thường vụ Trung ương rút khỏi Lân Táy đi qua Lân Riều, Lân Nặm, Lân Đẩy, Lân Rào đến Sa Khao, Khuổi Nọi, và đầu tháng 8 xuống đến cơ quan bí mật do Cứu quốc quân xây dựng ở Núi Lều (xã Tràng Xá, châu Võ Nhai). Ngày 25 tháng 7 năm 1941, khi được tin các đồng chí Thường vụ Trung ương đến Mỏ Pja, kẻ địch liền huy động lực lượng tiến công vào đây. Lực lượng của chúng có khoảng một trung đội lính khố xanh do tụi mật thám địa phương dẫn đường. Chúng tiến công vào Mỏ Pja theo 4 hướng. Từ Nà Yêu, Kéo Cuởm, Nà Nâm và từ Vĩnh Yên vượt đèo Canh Tung cùng tiến thẳng vào Mỏ Pja. Nhưng lúc này các đồng chí Trung ương đã rút đi xa. Chẳng bắt được người, chúng tiến hành khủng bố nhân dân vùng này.

Đã gần một tháng càn quét, nhưng chẳng bắt được các đồng chí Trung ương và cũng không tiêu diệt được Cứu quốc quân, thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai tăng cường đàn áp và khủng bố. Già, trẻ, gái, trai của những gia đình có người tham gia cách mạng, chúng bắt về giam ở Đàng Lang (xã Quỳnh Sơn). Chúng dỡ nhà, cướp của, dồn dân các bản Lân Pán, Nà Yêu, Khuổi Cưởm, Mỏ Pja... ra tập trung ở bản Pác Mỏ (xã Hữu Vĩnh). Chúng liên tiếp hành quân càn quét vào vùng Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ) là trung tâm căn cứ của Cứu quốc quân. Trong những cuộc càn quét đó, kẻ địch đã triệt hạ hoàn toàn bản Khuôn Khát, một bản gồm 16 nóc nhà của đồng bào Dao. Cả bản chỉ còn lại một người trốn thoát. Đây là một tội ác tầy trời của thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Cũng trong các cuộc càn quét đó, kẻ địch đã bắt phần lớn đồng bào các bản Nà Cái, Bản Ít đem về giam giữ ở trại giam Đàng Lang (xã Quỳnh Sơn)

Cứu quốc quân đã dũng cảm chặn từng bước các cuộc tiến công của địch để bảo vệ phong trào cách mạng. Có trận, Cứu quốc quân đã phá tan cuộc càn quét của kẻ địch như ở Giá Huần (xã Vũ Lễ). Nhưng kẻ địch tăng cường khủng bố, tình hình ngày càng khó khăn. Vùng trung tâm căn cứ liên tục bị tiến công. Cơ sở quần chúng ở một vài nơi bị vỡ. Sinh hoạt của cán bộ và Cứu quốc quân ở trong rừng ngày càng gặp khăn. Phạm vi hoạt động của Cứu quốc quân ở Bắc Sơn dần dần bị thu hẹp. Đứng trước tình hình đó, các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi quyết định rút đại bộ phận Cứu quốc quân ra khỏi Bắc Sơn lên Cao Bằng và vùng biên giới Việt-Trung, chỉ để lại Bắc Sơn một tiểu đội để giữ vững cơ sở quần chúng.

Bộ phận rút khỏi Bắc Sơn theo hai hướng. Một hướng lên biên giới Việt — Trung về phía Lạng Sơn. Một hướng lên căn cứ Cao Bằng. Ngày 8 tháng 8 năm 1941, bộ phận thứ nhất rút khỏi Khuổi Nọi. Bộ phận này gồm các đồng chí Đặng Văn Cáp. Hoàng Văn Thái, Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán, Ý, Sơn... Đến ngày 15 tháng 8 thì sang tới vùng biên giới Việt — Trung. Ngày 10 tháng 8 bộ phận thứ hai cũng rút khỏi Khuổi Nọi. Bộ phận này gồm các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi, Hà Khai Lạc, Bế Sơn Cương, Mã Thành Kính, Thành, Lâm... Khi đến làng Văn Học (châu Nà Rì) thì gặp địch xét hỏi. Các đồng chí đã chủ động đánh địch đề tiếp tục hành quân. Một tên lính dõng bị chết. Tên chánh Thượng bị thương. Kẻ địch huy động lực lượng lính, dõng các địa phương truy kích, phục kích, chặn đường. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, bộ phận này hành quân tới làng Khau Pàn (xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn, tỉnh Bắc Cạn) thì lọt vào ổ phục kích của địch. Bị bất ngờ, địa hình không quen thuộc, sau nhiều ngày hành quân trong rừng đã mệt, kẻ địch lại đông hơn ta gấp bội, do đó bộ phận này đã bị tổn thất nặng. Đồng chí Phùng Chí Kiên bị hi sinh tại trận. Đồng chí Lương Văn Chi bị ốm, không đi được, đến ngày 28 tháng 8 thì bị địch bắt đem về giam ở nhà tù Cao Bằng, và ngày 20 tháng 9 thì hi sinh ở nhà tù. Số còn lại rút lên căn cứ Cao Bằng an toàn.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Cứu quốc quân« Trả lời #9 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2021, 02:59:11 pm »
Bộ phận ở lại Bắc Sơn gồm có các đồng chí Nguyễn Cao Đàm, Dương Quốc Vinh, Dương Thần Tần, Hoàng Đình Ruệ, Hoàng Doãn Hoàng, Hoàng Văn Thằng, Đường Quảng Long, Đường Văn Thức. Mã Viết Thốn, Mã Viết Vinh. Bộ phận này chia thành từng tổ công tác ở các xã Vũ Lăng, Vũ Lễ, Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Hữu Vĩnh, Bắc Sơn... để giữ vững cơ sở quần chúng. Địch truy lùng ráo riết, đến cuối tháng 8 năm 1941, thì chúng bắt được 6 chiến sĩ Cứu quốc quân. Ngày 20 tháng 9 năm 1941, địch đem xử bắn và đem bêu đầu ở châu lỵ để uy hiếp tinh thần nhân dân. Đó là các liệt sĩ Hoàng Đình Ruệ, Dương Thần Tần. Hoàng Doãn Hoàng, Hoàng Văn Thằng, Mã Viết Thốn, Mã Viết Vinh. Còn lại bốn đồng chí là Nguyễn Cao Đàm, Dương Quốc Vinh, Đường Văn Thức và Đường Quảng Long rút xuống Võ Nhai cùng bộ phận Cứu quốc quân ở đây đấu tranh chống địch khủng bố.

Máu của cán bộ và chiến sĩ Cứu quốc quân đã đổ xuống. Nhưng quân thù không thể tiêu diệt được đội Cứu quốc quân và dập tắt phong trào cách mạng của nhân dân Bắc Sơn, Võ Nhai. Các liệt sĩ Cứu quốc quân đã nêu một tấm gương chiểu đấu anh dũng, không phản Đảng, không hại dân, không khuất phục kẻ thù. Tấm gương hi sinh cao cả vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân của các liệt sĩ ấy như là lời kêu gọi đội Cứu quốc quân, đồng bào Bắc Sơn, Võ Nhai hăng hái và bền bỉ đấu tranh, tiếp tục đưa phong trào cách mạng tiến lên không ngừng.

Mất mục tiêu chủ yếu của cuộc khủng bố ở châu Bắc Sơn, từ đầu tháng 9 năm 1941, thực dân Pháp chuyển trọng tâm của cuộc khủng bố xuống châu Võ Nhai. Song, không phải đến lúc này kẻ địch mới khủng bố phong trào cách mạng Võ Nhai, và cũng không có nghĩa là cuộc khủng bố ở Bắc Sơn của chúng đã kém phần khốc liệt.

Sang tháng 9 năm 1941, cuộc khủng bố của kẻ địch ở châu Bắc Sơn vẫn được tiếp tục đẩy mạnh nhằm triệt phá hoàn toàn phong trào cách mạng ở đây. Một mặt, chúng tăng cường lực lượng mật thám, tay sai và kích thích bọn này ráo riết hoạt động. Mặt khác, chúng tăng thêm lính, dõng, xây thêm bốt gác. Các đồn Mỏ Nhài, Nam Nhi, Quang Thái, Đàng Lang, Bác Bãi đều được bổ sung thêm lính. Với lực lượng được tăng cường, kẻ địch liên tiếp hành quân càn quét, khủng bố nhân dân. Chúng tiến hành hàng loạt vụ bắt người, cướp của. Hàng trăm quần chúng và đảng viên ở các xã Hữu Vĩnh, Vu Lăng, Vũ Lễ, Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Bắc Sơn... bị chúng bắt đem đi giam cầm ở nhà tù Lạng Sơn, Hỏa lò (Hà Nội), Chợ Chu (Thái Nguyên), Nghĩa Lộ, Sơn La, Côn Đảo. Chúng đẩy mạnh chính sách dồn làng, tập trung dân để «tát nước, bắt cá», kìm kẹp chặt chẽ nhân dân. Ở xã Vũ Lăng, địch dồn dân ở các bản Cốc Bó, Nà Pán, Tát Hương, Nà Kheo... lên cạnh đồn Nam Nhi để dễ kiểm soát. Ở xã Chiêu Vũ, chúng dồn dân bản Lân Nghiến sang bản Tân Kỳ, Lân Khinh sang Áng Nộc. Chúng lùng bắt người của những gia đình cách mạng và có cảm tình với cách mạng ở các xã Vũ Lễ, Vũ Lăng, Ngư Viễn, Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Hữu Vĩnh... về trại tập trung Đàng Lang, Chiêu Vũ. Ngoài ra, kẻ địch còn hạn chế việc bán muối để o ép nhân dân. Đồng thời với chính sách đàn áp và khủng bố, kẻ địch còn tiến hành mua chuộc, dụ dỗ nhân dân và trụy lạc thanh niên. Chúng đặt thưởng rất hậu cho những người bắt được cán bộ cách mạng đem nộp cho chúng. Chúng tuyên bố sẽ tha bổng hoàn toàn cho những ngườí ra đầu thú. Chủng tổ chức những ngày hội thi sắc đẹp, các trò chơi có tính chất miệt thị dân tộc như leo cột mỡ, bịt mắt liếm chảo có thưởng... để đầu độc thanh niên.

Sự khủng bố, đàn áp, cướp phá của thực dân Pháp và bè lũ tay sai làm cho đời sống của đồng bào rất cực khổ, nhất là đồng bào sống trong các trại lập trung và khu dồn dân. Ở đó đồng bào phải sống chen chúc trong những căn nhà chật hẹp ẩm thấp. Do đó nạn ốm đau, bệnh tật hoành hành trong hoàn cảnh không thuốc thang, đói rét. Hàng ngày chúng còn bắt nhân dân đi cuốc đất, đường Chiêu Vũ đi Mỏ Nhài và xây đồn Nam Nhi. Trong khi phải lao động vất vả, đồng bào lại còn bị đánh đập, chửi mắng. Xung quanh khu dồn dân, trại tập trung là hàng rào bằng tre vót nhọn bao quanh, có hệ thống chòi canh, bốt gác kiểm soát nghiêm ngặt mọi người ra vào. Cứ tối đến là chúng lại điểm mặt từng người. Đi làm, đi chợ đều có lính, có mật thám đi kèm. Kẻ địch còn gài bọn mật thám tay sai vào các khu tập trung để theo dõi mọi cử chỉ, lời nói của nhân dân. Cuộc sống của đồng bào bị o ép đến cùng cực.

Đến tháng 9 năm 1941, phong trào cách mạng Bắc Sơn gặp nhiều khó khăn, tạm thời lắng xuống. Lúc này lực lượng Cứu quốc quân là nòng cốt của cuộc đấu tranh chống địch khủng bố đã rút ra Bắc Sơn để bảo toàn lực lượng. Đồng thời cán bộ, đảng viên địa phương cũng bị cuộc khủng bố của địch tách khỏi phong trào. Một số thì bị bắt. Một số thì phải chạy vào rừng sâu hoạt động bí mật. Trong khi đó, cuộc đấu tranh chống địch khủng bố ở châu Võ Nhai của đồng bào các dân tộc và bộ phận Cứu quốc quân ở đây vẫn tiếp diễn và ngày càng sôi nổi.

Khi thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai tập trung lực lượng tiến công phong trào cách mạng Bắc Sơn thì chúng cũng bắt đầu khủng bố phong trào cách mạng Võ Nhai. Chúng điều các chi nhánh mật thám lên đóng chốt ở Đình Công, Đình Cả, Làng Giữa để chỉ huy bọn tay chân, chặn đường các đồng chí thường vụ Trung ương về xuôi, đàn áp và khủng bố nhân dân, tiêu diệt Cứu quốc quân. Kẻ địch đã tiến hành hàng loạt vụ bắt người, đốt phá nhà cửa và ruộng vườn ở các xã Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá... để uy hiếp tinh thần của nhân dân. Các Làng Cao, Làng Phật, Làng Lầm bị địch đốt phá. Hành động đó của chúng càng làm cho ngọn lửa căm thù của nhân dân thêm bốc cao.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn