Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

TÁM VỊNH - PHƯỜNG CÁI VỒN

Tám Vịnh. Mọi người gọi anh thân mật như thế. Về thị trấn Cái Vồn hỏi Tám Vịnh thì ai cũng biết. Trong khai sinh, giấy tờ thì anh là Cao Văn Tám, sinh năm 1947, tại ấp Tân Bình, xã Tân Quới, huyện Bình Minh. Tám Vịnh còn có cái tên khác ít người biết đến nhưng khắc sâu tâm khảm không hề gì quên trong một quãng đời đầy sóng gió và hùng tráng của anh. Đó là Cao Văn Vịnh, người tù mang bí số 2294 tại trại tù binh Phú Quốc khét tiếng của Mỹ Ngụy.

Quảng Trị30/11/2025Bùi Minh Luân (Xã Triệu Phong)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

TRẬN CHIẾN TRONG TÙ

Tám Vịnh. Mọi người gọi anh thân mật như thế. Về thị trấn Cái Vồn hỏi Tám Vịnh thì ai cũng biết. Trong khai sinh, giấy tờ thì anh là Cao Văn Tám, sinh năm 1947, tại ấp Tân Bình, xã Tân Quới, huyện Bình Minh. Tám Vịnh còn có cái tên khác ít người biết đến nhưng khắc sâu tâm khảm không hề gì quên trong một quãng đời đầy sóng gió và hùng tráng của anh. Đó là Cao Văn Vịnh, người tù mang bí số 2294 tại trại tù binh Phú Quốc khét tiếng của Mỹ Ngụy.

Tân Quới, nơi Tám Vịnh sinh ra và lớn lên là một vùng đất hiền hòa nằm cặp dòng sông Hậu, quê hương của các vườn cây ăn trái, rấy màu, ruộng lúa bạt ngàn. Con người ở đây đa số là nông dân, thật thà chất phát như cục đất, củ khoai, cây lúa vậy. Lẽ ra, trong hoàn cảnh ấy ai cũng lo lam lũ làm ăn, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, vun đắp xóm làng như vốn có xưa nay ở các vùng quê Nam bộ. Thế nhưng bọn thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ và tay sai đâu để dân mình được yên. Chúng thẳng tay đàn áp, bắn giết và tìm cách chia rẽ Lương Giáo, mưu đồ đưa dân tộc này vào cảnh nồi da xáo thịt. Con giun xéo lắm cũng oằn, huống chi trong huyết quản của mọi người Việt Nam đều mang một dòng máu đỏ. Cho nên những người nông dân hiền lành chất phát kia đã vùng lên giành lại cơm áo cho bản thân, tự do cho. dân tộc. Và thời thế đã tạo anh hùng. Không phải một mà hàng triệu người con thân yêu của giòng giống Lạc Hồng.

Hồi mới 12, 13 tuổi, Tám Vịnh đã thường xuyên tiếp xúc với những người cộng sản, tức Việt Công theo kiểu gọi của tụi lính quốc gia lúc bấy giờ. Thời kỳ 1959 - 1960, giai đoạn đen tối, khó khăn của Cách Mạng, lúc chế độ độc tài Ngô Đình Diệm lê máy chém khắp cả miền Nam thì ông Mười, cha của Tám Vịnh đã là cơ sở cách mạng vững chắc của ta. Mãnh vườn hương quả của ông Mười, cách đồn Thông Lưu chưa đầy 200 m là nơi ông Ba Mốc, ông ba Di Cư, và nhiều đồng chí khác trú ẩn, tới lui hoạt động. Thế là Tám Vịnh nghiễm nhiên trở thành một giao liên không tuyên bố. Khi thì đem cơm nước ra vườn, lúc giả làm tiếng kêu của con Bìm Bịp, Tu Hú huýt sáo, gọi chim, giăng bấy, bắn nạn giàn thun, ... tự nhiên vô tư lự, nhưng đấy là cả một hệ thống ám hiệu mà ông Mười và các chú đã qui định sẵn. Lẽ ra thì Tám Vịnh chỉ nên lo cắp sách đến trường thôi, các chú chẳng đã từng động viên Tám Vịnh gắng học giỏi đó sao. Vậy mà hoàn cảnh nó đẩy đưa, thời cuộc đổi thay biến chuyển. Sau cái chết của ông Mười chẳng bao lâu là cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm. Giặc chẳng những không thực hiện Hiệp định Genève mà còn tăng cường ruồng bố đóng đồn bót, bắt bớ người vô tội. Thế là Tám Vịnh thoát ly gia đình tham gia du kích xã lúc vừa 16 tuối, chính thức chống lại bọn tay sai nối gót ngoại bang dẫm bừa quê hương dân tộc. Trãi qua suốt cuộc đời chiến đấu, từ du kích xã đến bộ đội địa phương rồi chính trị viên xã đội, bây giờ thì Tám Vịnh không còn nhớ mình đã tham gia chiến đấu bao nhiêu trận. Bởi lẽ anh sinh ra đâu phải để cầm súng, cứ giặc đến là đánh, vậy thôi. Nhiều lần Tám Vịnh dẫn tiểu đội du kích đi công tác bị địch bao vây, chẳng những không nao núng mà anh còn dựa vào địa thế thuộc như lòng bàn tay trên quê hương mình để đánh trả và buộc chúng bỏ chạy. Danh tiếng Tám Vịnh nổi như cồn. Chính tên Tổng đoàn Dần khét tiếng ác ôn trong bọn lính quốc gia ở Bình Minh đã treo giải 200.000 đồng cho ai bắt sông được "tên Việt Công đầu sỏ Tám Vịnh". Thế nhưng Tám Vịnh vân tung hoành ngang dọc khắp vùng Rạch Súc, Ranh Hạc, Kinh Mười Thới, huyện Hàm, làm cho bọn giặc càng thêm điên tiết.

Nhưng rồi cũng có lúc Tám Vịnh và đồng đội của anh chủ quan, khinh xuất. Đêm đó, Tám Vịnh được lệnh ông Ba Đông, Thường vụ Huyện ủy Bình Minh gọi về cứ họp và ngủ lại luôn ở đó. Mới tờ mờ sáng địch đã mở trận càn. Đám xe lội nước rầm rộ như lũ trâu điên băng đồng từ Thành Lợi tiến lên Ranh Hạc. Tám Vịnh nóng ruột định tắt bờ xoài lên kinh Huyện Hàm liên hệ với tiểu đội du kích. Mới nửa đường bọn giặc như đã chờ sẵn, khép chặt vòng vây. Tám Vịnh bị bắt. Đó là ngày 25/11/1967, một ngày không thể nào quên trong đời Tám Vịnh. Ngay từ những phút đầu tiên tại chiến trường, Tám Vịnh đã bị đánh tơi bời. Một tên trung úy đưa khẩu col 45 lẩy cò. May thay tên đại úy chỉ huy đứng gần đó đưa tay đỡ kịp nòng súng lên trời. Đúng là mạng Tám Vịnh còn lớn. Trên đường áp giải một tên lính mặt còn non chẹt lên giọng: "Mày theo Việt Cộng để được con C... gì. Việt Nam cộng hòa có đủ súng to pháo lớn". Tám Vịnh đáp tỉnh bơ: "Tụi mày khoe khoang đủ thứ mà mỗi lần ăn đạn B40 là quay đâu xe chạy như trâu nước, nghe tiếng súng AK là thẳng nào D... cũng thun đến cần cổ" - "ĐM bướng hả". Thằng lính nổi quạu vừa chửi thề vừa đưa báng súng nện thẳng tay vắt ngang lưng Tám Vịnh nghe đánh hự, đến nổi cây "Ga răng" gãy lìa làm đôi. Thế rồi Tám Vịnh bị đưa lên trại giam Vĩnh Long. Đánh đập, thẩm vấn chán, 4 ngày sau chúng chuyển anh sang trại tù binh Cần Thơ. Sau tết Mậu Thân chúng đưa anh ra trại tù binh Phú Quốc, bắt đầu một cuộc đi đày.

Mới vừa bước xuống sân bay An Thới, Tám Vịnh và hàng trăm người khác đã bị đám quân cảnh đánh phủ đầu. Chúng vừa vung gậy loạn xạ, bất kể vừa hăm dọa "ĐM, ra tới đây thì ráng mà liệu hồn": Đây là thông lệ ở cái nhà tù nổi tiếng ác ôn này. Sau đó chúng đưa Tám Vịnh về phân khu B3 khởi đầu một chặng đường đấu tranh gian khổ và ác liệt. "Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại" quả chẳng sai, vừa mất tự do vừa chịu đủ thứ cực hình. Chuyện đánh đập, tra tấn, tạp dịch, lao động khổ sai..., diễn ra hàng ngày. Tám Vịnh ý thức rõ giặc muốn những người cộng sản nhục chí, đầu hàng, khai báo... Cũng đã có người chịu không nổi đã chiêu hồi, làm theo sự sai khiến của chúng, nhưng ít thôi, đa số vẫn là những người chiến sĩ Cách mạng kiên trung.

Khoảng 2 tháng sau Tám Vịnh nối lại được với tổ chức, bắt đầu sinh hoạt chi bộ. Qua các đồng chí trong tù, Tám Vịnh hiểu thêm rằng giặc rất dã man, gian xảo, chỉ cần một chút sơ ý, lơ là, giảm sút ý chí là chúng đã có cớ hành hạ đánh đập, càng nhượng bộ chúng sẽ càng lấn tới nhằm tìm kẻ hở đánh phá cơ sở Cách mạng trong tù bằng mọi thủ đoạn. Cho nên lúc nào anh cũng trong tư thế cảnh giác giữ vững khí tiết, sẵn sàng chiến đấu. Một trận chiến không kém phần gay go ác liệt với lực lượng không cân sức. Phải vậy thôi đâu, bọn chỉ huy nhà tù gian xảo luôn xáo trộn tù binh, gây khó khăn trong sinh hoạt cũng như sự nối ráp tổ chức của ta. Vừa xáo trộn vừa gạn lọc, địch chuyển Tám Vịnh lần hồi từ phân khu này đến phân khu khác. Mỗi lần như vậy anh có cảm giác địch đã phát hiện ra điều gì đó nên càng đẩy anh vào cuộc chiến mới ác liệt hơn.

Có lần tại phân khu A9, một đồng chí của ta đi vệ sinh bị đám Quân cảnh bắn chết hết sức dã man. Tám Vịnh cùng với anh em bạn tù vừa gõ gà mèn vừa hô đả đảo vang trời. Chẳng những không nhân nhượng mà bọn chúng còn dùng Tiểu liên bắn thẳng vào làm chết đồng chí Năm, Bí thư chi bộ Mỹ Tho và bị thương một số đồng chí khác ở phòng 4. Vậy là không thể kềm chế được nữa rồi. Cả phân khu sôi sục khí thế quyết đấu tranh đến cùng với giặc. Mấy ngày liền anh em vừa tuyệt thực vừa cử đội cảm tử canh giữ xác đồng chí Năm và các đồng chí bị thương. Sự việc mới giải quyết xong, ta thôi tuyệt thực đang ăn cháo thì nghe xảy ra vụ thảm sát ở khu B8. Vậy là lại tiếp tục tuyệt thực phản đối hành động dã man ấy.

Sau vụ đó, giặc đàn áp bắt bớ điều tra dữ dội, Tám Vịnh bị chuyển về khu C6, trong đó có nhiều cán bộ cốt cán của ta. Tại đây Tám Vịnh được tổ chức phân công phó Bí thư chi bộ phòng 6. Và cũng tại đây Tám Vịnh trãi qua một cuộc chiến đấu gian khổ, dữ dội nhất, tưởng như không còn sống nỗi.

Đã hơn 25 năm, tới giờ Tám Vịnh còn nhớ như in. Hôm đó, một ngày đầu tháng 7 năm 1970 mới tờ mờ sáng giặc đã bắt anh em tù binh đi tạp dịch. Ông Sáu Na, người Rạch Giá, Đảng ủy viên phân khu C6, sức yếu quá lại mới vừa lên cơn sốt nên đi không nổi. Thấy vậy, tố chức cử Tám Vịnh ra đấu tranh với bọn giám thị cho ông Sáu Na được nghỉ. Chẳng những không đồng ý mà chúng còn quay sang đánh Tám Vịnh bằng mấy chục roi cá đuối.

Cứ mỗi lần ngọn roi vung lên đánh vút là một miếng da trên người Tám Vịnh rời khỏi cơ thế, tới giờ vẫn còn thẹo. Mấy ngày nằm biệt giam đám ruồi nhặng bu vào cắn đốt, Tám Vịnh phải lấy cát đắp vào cho đỡ nhức. Vậy là một ngày ít nhất 3 cử, cứ đến giờ điểm danh là đám trật tự, giám thị cả chục tên lôi anh ra thay phiên nhau đánh, nhằm tìm sơ hở để khai thác. Ác ôn nhất có tên Chín Gấm gốc địa phương quân Gò Công đã chiêu hồi. Tên này dùng cây xới cơm đánh thẳng vô họng Tám Vịnh, hắn vừa chửi:

"ĐM cứng đầu hả ?" "Ai tổ chức mầy ?" "Thằng nào Bí thư trong nhà tù"?

Mấy ngày liền cổ họng Tám Vịnh sưng tấy, trương to như người bị bướu cổ, mất hết cảm giác, đến nỗi anh em đỗ nước cháo nuốt không vô. Vậy mà chúng vẫn chưa chịu thôi. Một bữa, đám giám thị lôi Tám Vịnh lên hỏi:

- Mầy biết bữa nay là ngày gì không ?

- Tôi ở trong tù, ngày nào cũng như ngày nào vậy thôi, làm sao tôi biết được.

- 20/7 là ngày gì?

- Là ngày ký kết Hiệp định Genève hồi năm 1954, đình chiến, chờ tổng tuyển cử, thống nhất đất nước.

- ĐM là ngày quốc hận... Mầy biết chưa?

Vừa nói tên giám thị vừa thuận chân đá thẳng vô ngực Tám Vịnh. Tên này đá qua, tên kia đá lại, chúng coi Tám Vịnh còn thua quả banh da nữa. Chúng lại lôi xênh xệc Tám Vịnh xuống nhà tắm quậy xà bông đổ ồng ộc. Thấy không khai thác được gì, điên tiết chúng lại khiêng Tám Vịnh trở về phòng biệt giam cho đi máy bay. Cứ mỗi lần chúng kéo lên thả xuống, tay chân Tám Vịnh kêu răng rắc, xương cốt như gảy lìa từng khúc một, ngực ép không thở ra hơi. Tàn nhẫn hơn chúng bắt Tám Vịnh chống tay vô tường rồi đá cực mạnh vô bụng, gọi là kiểu bắn B40. Mỗi lần mũi giày của tên giám thị nện cái binh vô bụng là Tám Vịnh thấy đầu mình như quả đạn vừa rời khỏi nòng súng lao thẳng về phía trước còn thân mình bị dội ngược về phía sau, té xấp, ngất lịm. Trong cơm mê Tám Vịnh thấy mẹ và các người thân mình ra thăm. Anh nhìn lần lượt từng người, động viên họ mà rơi nước mắt. Tám Vịnh thấy mẹ đau buồn nhìn cái thân thể như chết rồi của anh và nói gì đó. Anh không nghe rõ nhưng vân lắc đầu. Hình ảnh mẹ xa dần. Tỉnh dậy thì chỉ còn mình Tám Vịnh ở cái địa ngục giữa trần gian.

Mấy ngày sau đó ngực Tám Vịnh sưng vù, phập phìu, bầm tím, cánh tay trái Tám Vịnh cứng đơ không chịu nhúc nhịt. Có người trong lúc đỗ cháo thấy Tám Vịnh không còn nuốt được đã rơi nước mắt: "Chắc là nó không qua nổi" . Đến ngày 27/7 thì Tám Vịnh kiệt sức. Đến nước đó bọn giám thị mới chịu đưa Tám Vịnh lên bệnh viện Phú Quốc rồi sau đó đi bệnh viện Cộng Hòa (Sài Gòn). Vì sợ nếu để Tám Vịnh chết anh em trong trại sẽ nối lên đấu tranh mạnh mẽ, sẽ gây khó khăn cho chúng. Tại đây các bác sĩ đã phải mổ mới lấy hết máu và thịt bầm dập trong lồng ngực Tám Vịnh, có người đã buộc miệng "Tụi mày ác ôn quá"

Sau 2 tháng điều trị, chúng đưa Tám Vịnh về trại giam Biên Hòa. Ớ đây anh có dịp tiêp xúc với anh em mới bị bắt và những người thăm nuôi, sĩ quan binh lính có cảm tình với ta. Nhờ chuyến đi điều trị này mà Tám Vịnh nắm được khá rõ tình hình ở bên ngoài. Anh biết cuộc chiến đang hồi ác liệt nhưng cũng là đỉnh điểm của hồi kết thúc. Bọn Mỹ Thiệu dù cố che đậy bằng cách mở rộng, leo thang chiến tranh nhưng chắc chắn đã đến giai đoạn cáo chung. Tám Vịnh càng thêm tin tưởng có ngày mình sẽ được tháo củi sổ lồng.

Giặc lại đưa Tám Vịnh trở ra đất đảo. Cũng chiêu bài cũ, tra tấn đánh đập, chẳng những Tám Vịnh không lung lay mà còn động viên anh em giữ vững khí tiết. Trước mặt bọn giám thị, Tám Vịnh bây giờ là một cây gai, nhưng là một cây gai bằng thép đã qua trui luyện nhiều lần.

Thế rồi, hổ cũng có ngày được thả về rừng như Tám Vịnh đã từng suy đoán và mong đợi. Ngày 13/3/1973 theo tinh thần ký kết hiệp định Paris, Tám Vịnh và đồng đội của anh ở trại tù binh Phú Quốc được trao trả về Lộc Ninh, tiếp tục cuộc chiến đấu đến ngày giành thắng lợi hoàn toàn. Sau ngày giải phóng, Tám Vịnh lần lượt làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh rồi chuyển về huyện nhà Bình Minh. Ở đâu anh cũng hoàn thành công việc. Ngay cả bây giờ trở lại đời thường, bươn chải vật lộn với cuộc sống, Tám Vịnh cũng thấy chẳng có gì để phải ân hận.

Hồi mới hòà bình, có lần Tám Vịnh gặp lại tên giám thị Huỳnh Ngọc Tố, khá có tiếng ở Phú Quốc. Tên này xám mặt, run lật bật. Tuy có giận nhưng Tám Vịnh cố nén, không thèm giết người dưới ngựa. Biết Huỳnh Ngọc Tố khai man trốn học tập cải tạo, Tám Vịnh đã khuyên tên này ra đầu thú. Sau đó, anh còn tìm cách giúp đỡ Tố và vợ con của hắn về sinh sống ở khóm 6, đường Trần Quang Khải. Tám Vịnh nói: "Nếu rấp tâm trả thù thì thù hận sẽ chất chồng lên mãi".

Bây giờ Tám Vịnh đang ra sức làm ăn, cố sao cho con cái nên người. Mong muốn và cũng băn khoăn của Tám Vịnh là làm sao mấy đứa con anh nói riêng, thế hệ trẻ ngày nay nói chung thấy được sự hy sinh gian khổ nhưng đầy oai hùng của cha ông nó, từ đó ra sức đưa đất nước ngày càng giàu mạnh, sánh vai cùng năm châu bè bạn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn