Ngay từ xa xưa con người Việt Nam đã mang trong người dòng máu đỏ da vàng cũng như sự gắn bó, sẻ chia, tương trợ lẫn nhau trong những cuộc kháng chiến từ lớn đến nhỏ của chính con người Việt Nam . Và đến ngày hôm nay ông cha ta cũng đã để lại cho ta những tư liệu và còn dạy dỗ con em mình bằng chính những bài học bằng chính những thông điệp từ việc giữ nước đến góp phần gắn bó giữa người với người từ việc truyền tai nhau qua gia đình thôn làng thì ở trong xã hội thời đại mới hiện nay, khi thông tin lan truyền với tốc độ nhanh chóng nhờ Internet và mạng xã hội, công tác tuyên truyền và dư luận xã hội ngày càng có vai trò to lớn trong việc định hướng nhận thức, tư tưởng và hành vi của con người. Đặc biệt, đối với sự phát triển của thế hệ trẻ hiện nay, việc tiếp cận những thông tin về lịch sử, chính trị, kinh tế trong một xã hội rộng lớn là vô cùng quan trọng. Giữa nhịp sống trẻ trung, năng động của sinh viên, đoàn viên ngày hôm nay, cần có những khoảnh khắc lắng đọng để ta nhìn lại chặng đường hào hùng của cha ông – những năm tháng "hoa lửa" đã làm nên độc lập, tự do cho dân tộc. Hòa trong dòng chảy ấy, hoạt động Đoàn trường không chỉ là nơi rèn luyện, cống hiến, mà còn là chiếc cầu nối đưa lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Nếu ví thời gian như thác nước to lớn không ngừng chảy, thì những dấu ấn lịch sử lại là sự bất tử, trường tồn và không bao giờ thay đổi. Đặc biệt đối với con người Việt Nam, chỉ hai từ "dồi dào" là có thể lột tả rất nhiều ý nghĩa: sự dồi dào về sự màu mỡ, sáng tạo, ý chí, tình yêu thương, và đặc biệt là lòng tin của chính nhân dân, đoàn viên, đảng viên dành cho Đảng, dành cho nước nhà. Đó là những câu chuyện của lòng yêu nước, của sự hy sinh, của khát vọng độc lập và tự do. Hành trình giáo dục và rèn luyện thế hệ trẻ hôm nay không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là sứ mệnh thiêng liêng của tổ chức Đoàn và của mỗi đoàn viên, sinh viên.Trên tinh thần bổ trợ chung tay gắn kết với các nhân chứng lịch sử và những người đã trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng chiến đấu giữ nước trong thời khắc sinh tử của dân tộc, việc lắng nghe ký ức từ chính họ không chỉ giúp lịch sử trở nên chân thật, sống động mà còn khơi dậy trong mỗi đoàn viên niềm tự hào sâu sắc về quê hương, đất nước và còn hiểu rõ hơn từ chính những góc độ nhỏ từ tư tưởng , sự trân trọng , giữ gìn .Tiêu biểu cách mạng ở miền nam phải nhắc đến cách mạng của Tây Đô, cuộc kháng chiến lừng lẫy trên chiến trường Tầm Vu – Châu Thành, nơi từng được mệnh danh là "vành đai lửa" bảo vệ Cần Thơ trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.Chiến thắng Tầm Vu là một trong những dấu son đầu tiên trong 30 năm kháng chiến trên chiến trường Hậu Giang. Trên cùng đoạn lộ Tầm Vu (quốc lộ 61) những năm đầu kháng chiến, lực lượng vũ trang Tây Nam Bộ và Cần Thơ - Hậu Giang 4 lần phục kích đánh giao thông quân Pháp; trong đó trận Tầm Vu 4 (năm 1948) là lần đầu tiên ta thu được đại bác 105 ly của địch, dùng trâu kéo chiến lợi phầm về căn cứ. Các trận đánh địch ở Tầm Vu có tầm vóc mở đầu cho nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật đánh cắt giao thông, đánh xe cơ giới địch, nghệ thuật nghi binh trong tác chiến quân sự; đó cũng là điển hình của sự phối hợp trong chiến tranh nhân dân địa phương. Việc bảo tồn, tôn tạo, quảng bá cho văn hóa – du lịch qua di tích chiến thắng Tầm Vu không chỉ là niềm tự hào, kiêu hãnh của nhân dân Cần Thơ - Hậu Giang trong lịch sử giữ nước, mà còn có thể trở thành cơ sở “chất liệu” mới cho những sáng tạo công nghiệp văn hóa địa phương.Tầm Vu - địa danh trên đoạn lộ Cái Tắc - Rạch Gòi (nay là trục giao thông Quốc lộ 4 – Quốc lộ 61 đoạn từ Cần Thơ đi Vị Thanh, Long Mỹ), thuộc ấp Xẻo Cao, xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Nơi đây lực lượng vũ trang Khu Tây Nam Bộ và Cần Thơ - Hậu Giang ngay từ những ngày đầu kháng chiến (1945-1948) đã lập nên những chiến công vang dội, đánh phủ đầu đội quân nhà nghề của thực dân Pháp. Ngày 30/10/1945 quân Pháp đánh chiếm Cần Thơ và sau đó chúng mở rộng đánh chiếm xuống phía Nam đến Hậu Giang và Cái Răng. Nhưng quân xâm lược Pháp đi đến đâu cũng bị quân dân các địa phương chặn đánh. Ngày 20/01/1946, một đoàn xe quân sự của địch từ Cần Thơ đi xuống Cái Răng đã bị đơn vị cộng hòa vệ binh do đồng chí Nguyễn Đăng chỉ huy chặn đánh chúng trên lộ Tầm Vu. Với lực lượng ít và vũ khí thô sơ, nhưng tổ chức đánh phục kích bất ngờ, đã diệt 2 xe quân sự, giết chết một số tên địch, trong đó có tên Dessert, tư lệnh quân viễn chinh Pháp tại miền Tây - một trong 5 tên sĩ quan cao cấp của Pháp trên chiến trường Đông Dương (Phụng Hiệp, 2001). Đây là trận thắng đầu tiên ở Tầm Vu của đơn vị vũ trang cách mạng đánh xe cơ giới địch, mở màn cho những trận chiến tiếp theo trên chiến trường miền Tây Nam Bộ. Cuối năm 1946, quân Pháp mở cuộc càn xuống Hậu Giang và lại bị sa lầy ở đoạn lộ Tầm Vu. Tại đây, ngày 12-11-1946, Đại đội 68 do Ngô Hồng Giỏi - Chi đội trưởng Chi đội 22 chỉ huy, kết hợp với đội công tác thành, công an xung phong và trung đội du kích Phụng Hiệp, đã phục kích đánh đoàn xe quân sự của địch trên lộ Tầm Vu. Trận đánh diễn ra bất ngờ và nhanh gọn trong khoảng 15 phút, ta diệt và phá hủy 3 xe quân sự, diệt 60 lính Pháp, thu 60 súng các loại cùng nhiều quân trang, quân dụng. Trong trận này, đồng chí Dương Văn Thuận anh dũng hy sinh (Sau này nhân dân đặt tên anh cho cây cầu trên lộ Tầm Vu – gọi là cầu Dương Văn Thuận) (Phụng Hiệp, 2001). Sau chiến thắng Tầm Vu (lần 2), lực lượng vũ trang cách mạng được phát triển nhanh chóng, đồng bào tin tưởng ở bộ đội và ra sức giúp đỡ tài lực cho kháng chiến, nhiều dân quân, du kích xin theo Đại đội 68. Bộ đội kháng chiến có thêm nhiều kinh nghiệm tổ chức phục kích, vận động đánh địch. Qua hai lần ghi chiến tích Tầm Vu, quân dân Hậu Giang và miền Tây Nam Bộ có thêm niềm cổ vũ và kinh nghiệm thực tế chiến đấu, nhất là lối đánh phục kích, giao thông chiến trong đối chọi với quân đội cơ động của thực dân Pháp. Bước sang năm 1947, chiến trường Nam bộ cùng toàn quốc kháng chiến, quân và dân Khu 9 và Cần Thơ – Hậu Giang đã nắm quy luật hành quân càn quét của địch và luôn sẵn sàng chủ động đối phó với chúng. Sau ba tháng điều nghiên chiến trường, ngày 15/4/1947, lực lượng vũ trang kháng chiến được huy động gồm: Đại đội Hồ Chí Minh, Đại đội 1084, Đại đội Cửu Long phối hợp với các đơn vị thuộc Cần Thơ như: Chi đội 23, các chiến sĩ quân báo, công an xung phong, 5 trung đội dân quân… bí mật ém quân tại rạch Láng Hàm (làng Thạnh Xuân) phục đón đánh quân Pháp xuống Tầm Vu. Công binh xưởng Khu 9 đã sản xuất được mìn, lựu đạn, súng, đại liên, cung cấp đầy đủ cho trận chiến. Công tác dân vận chuẩn bị chiến đấu được đặc biệt chú ý, để đồng bào giữ bí mật tuyệt đối cho trận đánh. Khu Bộ trưởng Khu 9 Huỳnh Phan Hộ trực tiếp chỉ huy trận đánh quan trọng trên trận địa Tầm Vu năm ngoái. Vào lúc 8 giờ sáng ngày 16/4/1947, bất ngờ có 3 tên lính người Pháp dẫn một tiểu đội lính Khmer vào Láng Hầm đốn tre. Chúng lập tức bị diệt gọn; địch chưa phát hiện gì trận địa phục kích của ta. Ngày 3/5/1947, lực lượng ta quay trở lại Láng Hầm, bí mật đưa quân phục kích sát lộ Tầm Vu, qua khỏi cầu Tầm Vu dài 500m về hướng Rạch Gòi. Đúng như dự đoán, khoảng 16 giờ chiều ngày 3-5-1947, đoàn xe địch từ Cần Thơ tiếp tế cho đồn Kinh Cùng (làng Hòa An, quận Long Mỹ) lọt vào trận địa phục kích. Trận đánh diễn ra chỉ khoảng 30 phút. Bộ đội tiêu diệt 6 xe và hơn 100 tên địch, thu 53 súng các loại. Bọn sống sót cố chạy thoát chết, không kịp phản ứng (Cần Thơ, 1998). Lần này là một trận vận động chiến được chuẩn bị công phu, chỉ huy hợp đồng tác chiến chặt chẽ, giải quyết nhanh gọn và đạt hiệu quả cao. Chiến thắng này gây tiếng vang lớn, mau chóng lan truyền trên khắp các tỉnh, làm nức lòng quân và dân miền Tây Nam Bộ. Chiến thắng Tầm Vu 3 làm nức lòng quân dân; người chiến sĩ Đắc Nhẫn phụ trách văn nghệ của Phòng chính trị Khu 9 liền sáng tác bài hát Tầm Vu. Quốc Hương – người chiến sĩ đánh trận Tầm Vu đã soạn lời bài hát từ thực tế chiến trận Tầm Vu và hát ngay lúc đó, trở thành bài hát truyền thống phổ biến trong kháng chiến. Giai điệu và ca từ bài hát rất hào hùng: Hùng thay Tầm Vu đây đó vang lừng chiến công, Một năm qua nơi đây tiếng ai giúp quân, Lướt trên ngàn thây phất cao ngọn cờ, Giết quân tàn tham đến nay còn vang,… Người Việt Nam hận thù thêm nung nấu, Đang xả thân vì non nước reo vang Vệ quốc quân, Tin chiến thắng về khắp ruộng đồng, Tầm Vu quang vinh nơi này là hố chôn quân Pháp tàn tham. Đầu năm 1948, phối hợp với chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông năm 1947 ở chiến trường chính Bắc bộ, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 chủ trương đẩy mạnh hơn nữa phong trào du kích chiến tranh và đánh địch với quy mô tương đối lớn. Khu Bộ trưởng Trương Văn Giàu và Tham mưu trưởng Võ Quang Anh chỉ huy trận đánh Tầm Vu lần thứ 4. Sáng ngày 19/4/1948, dự đoán đúng việc địch sẽ đưa quân đi chi viện cho đồn binh ở Bảy Ngàn, bộ đội ta tổ chức trận địa phục kích đoàn xe tiếp tế tại Tầm Vu, gồm các đại đội của trung đoàn 122, 123, 125 và dân quân du kích địa phương. Đoàn xe địch từ thị xã Cần Thơ đi lẫn với xe hàng, xe khách tháp tùng, nên không thể đánh được. Khoảng 14 giờ chiều, khi đoàn xe địch gồm 18 chiếc tiếp tế các nơi trở về đến Tầm Vu, các chiến sĩ ta đồng loạt nổ súng và xung phong vào trận địa chiến đấu dũng cảm. Đại đội phó Trần Tứ Phương kẹp súng trung liên vào hông, vừa tiến vừa bắn hàng loạt đạn, diệt từng cụm đề kháng của địch nấp dưới gầm xe chống đỡ lúc bộ đội xung phong. Kết quả ta tiêu diệt 12 xe và hơn 100 tên địch, trong đó có đại úy chỉ huy đoàn xe, bắt sống 80 tên, thu 200 súng các loại; đặc biệt trong đó lần đầu tiên trên chiến trường cả nước và toàn Đông Dương, ta thu được nguyên vẹn một khẩu đại bác 105 ly (Cần Thơ, 1998). Khẩu pháo 105 ly quá lớn, nặng hàng tấn lại cồng kềnh, rất khó vận chuyển trong địa thế vùng sình lầy Nam bộ. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 122 Ngô Hồng Giỏi liền tìm đến nhà ông Võ Văn Chót ở địa phương để mượn đôi trâu và được gia đình đồng ý cho mượn đôi trâu khỏe nhất để kéo pháo chiến lợi phẩm. Đoạn kéo pháo chỉ khoảng 1 cây số đường ruộng sình lầy, trời nhá nhem tối, pháo đến nơi an toàn, nhưng đôi trâu đã phải kéo quá sức (một con trâu đứt ruột chết tại chỗ, một con khác vài hôm sau cũng không qua khỏi). Địch lùng tìm khẩu pháo nhưng không sao tìm được (Sau ngày đình chiến năm 1954, khẩu đại bác 105 ly được đưa ra Hà Nội và trưng bày tại Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam). Từ đó chiến thắng Tầm Vu đi vào trang sử hào hùng của quân dân Hậu Giang nói riêng và của cả Nam Bộ nói chung bằng một mốc son đầu tiên trong lịch sử 30 năm kháng chiến trường kỳ (1945-1975).Bốn lần chiến thắng ở Tầm Vu là những sáng tạo của quân và dân Cần Thơ – Hậu Giang trong chiến tranh, trở thành dấu son đầu tiên trong lịch sử chiến tranh nhân dân thời hiện đại. Hai chữ Tầm Vu từ những năm đầu kháng chiến cứu nước đã vang dội cả nước, ghi dấu những chiến công chói lọi và trang sử hào hùng của quân dân Khu 9, quân dân cần Thơ, quân dân Phụng Hiệp, cổ vũ mạnh mẽ và thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở huyện Phụng Hiệp phát triển, vùng nông thôn giải phóng trong huyện ngày càng mở rộng. Hơn 45 năm sau những diễn biến lịch sử ấy, Khu di tích chiến thắng Tầm Vu đã được hình thành và trở thành di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ngày nay, khu di tích chiến thắng Tầm Vu đã có vị thế như một “thương hiệu”, đã và đang “chiếm lĩnh” vị trí xứng đáng trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, bởi sự hàm chứa nhiều nội dung ý nghĩa và giá trị rất lớn về lịch sử văn hóa của nó. Nhưng thiết tưởng Tầm Vu cần và có thể trở thành sản phẩm sáng tạo của công nghiệp văn hóa, góp phần thiết thực vào giá trị kinh tế - văn hóa tỉnh Hậu Giang và khu vực Tây Nam Bộ, đồng thời với giá trị giáo dục sâu sắc cho các thế hệ cách mạng 4.0 đang sinh thành và lớn bổng trên mảnh đất chín rồng hôm nay.Bước tới kỷ nguyên mới, thế hệ mới, chính tay các đoàn viên, sinh viên hãy vững tin chung tay đóng góp cho một xã hội mới tốt đẹp hơn, phát triển hơn trên nền tảng văn hóa, kiến thức và nhiều nền tảng khác. Đặc biệt, ở thế hệ công nghệ phát triển, sinh viên Khoa Công nghệ Thông tin lại càng vinh hạnh khi được mang trên vai một trong những sứ mệnh tuyên truyền kiến thức, củng cố lòng tin, sự tín nhiệm, cũng như dùng công nghệ để phụng sự cho Tổ quốc. Trong thời kỳ công nghệ ngày càng phát triển, việc nắm bắt và làm chủ tri thức chính là làm chủ sứ mệnh phát triển to lớn của đất nước.