Cựu chiến binh

Tập kích đồn bốt, tiêu diệt 1.000 tên địch: Quân dân miền Tây Nam Bộ “chia lửa” với Điện Biên Phủ

Trong ký ức của Thiếu tướng Trần Văn Niên, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 9, khí thế thi đua giết giặc lập công của quân và dân Phân liên khu miền Tây năm xưa vẫn còn nguyên vẹn. Bằng những trận đánh mưu trí, kết hợp vũ trang với công tác địch vận, quân dân miền Tây Nam Bộ đã căng kéo, phân tán lực lượng địch, góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu.

An Giang12/08/2026Xã Bình An (Đoàn xã Bình An)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người có “duyên” xây dựng đơn vị điển hình

Thiếu tướng Trần Văn Niên (thường gọi là Tư Niên) sinh năm 1933 tại xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá (nay là xã Hòa Hưng, tỉnh An Giang), trong một gia đình có 10 anh chị em. Ngày 19-5-1950, chàng trai 17 tuổi Tư Niên vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng thời gian đó, các đơn vị bộ đội chủ lực về đóng quân tại địa phương, lứa học sinh nam cùng thời háo hức rủ nhau viết đơn tình nguyện tòng quân cầm súng đánh Tây. Ngày 20-9-1950, ông Tư Niên chính thức bước vào quân ngũ, trở thành chiến sĩ đại đội trợ chiến thuộc Tiểu đoàn 410.

“Đứng trong đội hình “Tiểu đoàn chủ lực Nam Bộ” nổi tiếng đánh chống càn phá thế bao vây của địch trên các tuyến giao thông thủy - bộ khắp các mặt trận, tôi được trui rèn, thử thách qua chiến đấu, trở thành quân nhân cách mạng. Với nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, gây dựng phong trạo du kích chiến tranh, toàn dân đánh giặc, dù các lực lượng ngày ấy còn non trẻ nhưng đã “chia lửa”, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ”, giọng ông Tư Niên hào sảng, tự hào.

Từ năm 1953, thực dân Pháp triển khai hàng loạt đồn bốt và liên tiếp mở nhiều cuộc càn quét, đánh phá ác liệt vào các căn cứ cách mạng của ta. Trước tình hình đó, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tham mưu, Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Tây yêu cầu các tỉnh tích cực phát triển phong trào chiến tranh du kích nhân dân; các đơn vị vũ trang đẩy mạnh tiến công kết hợp chặt chẽ giữa địch vận và dân vận.

Ông Tư Niên nhớ lại: “Ngày đó, phong trào TOFACO (gọi tắt của tổng phản công) diễn ra rất sôi nổi. Khắp nơi quần chúng tham gia đấu tranh chính trị, thuyết phục binh lính địch bỏ súng đầu hàng về với cách mạng; còn bộ đội chủ lực phối hợp với địa phương giải phóng vùng kìm kẹp, vùng địch kiểm soát. Ta tấn công trên các địa bàn hiểm yếu khiến địch phải phân tán lực lượng, giảm sức ép cho chiến trường Điện Biên Phủ”.

Tiến công sào huyệt địch, đập tan thế kìm kẹp

Cuối năm 1953, Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Tây cùng các tỉnh xây dựng kế hoạch tác chiến theo phương hướng chính: Tập trung đánh sâu, đánh mạnh vào vùng địch hậu làm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; phá hủy cơ sở kinh tế, hậu cần buộc chúng phải chống đỡ ngay tại sào huyệt. Đồng thời, đề ra phương án ngăn chặn địch càn quét vùng căn cứ nhưng quyết không phân tán lực lượng.

Với vai trò phụ trách nội ô thị xã Cần Thơ cùng công tác binh vận, ông Nguyễn Tấn Phát (còn gọi là Ba Bá), Thị ủy viên Cần Thơ lúc bấy giờ, đã phát động và lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân rộng khắp. Nhiều hoạt động biểu tình, tuyên truyền giáo dục để gây khó khăn, hoang mang cho địch diễn ra liên tục.

Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức mở màn (ngày 13-3-1954), để “chia lửa” với chiến trường chính, quân và dân miền Tây Nam Bộ đã tranh thủ tiến công, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát động quần chúng chống địch càn quét, bắt lính, đôn quân; kiên quyết không cho chúng vơ vét tài sản cung cấp cho chiến trường Bắc Bộ.

Ông Tư Niên kể lại một trận đánh điển hình: “Khi lực lượng ta đẩy mạnh hoạt động ngụy vận và luồn sâu trong hậu cứ của địch thì các đơn vị đã liên hệ chặt chẽ với Huyện ủy, UBND huyện Ô Môn và Châu Thành (tỉnh Cần Thơ) móc nối với nội ứng. Ví như anh Lê Phước Biện được ta cài cắm từ năm 1949, đến khi đó giữ chức Đồn phó Đồn Giai Xuân, cùng 3 chiến sĩ nội ứng. Theo hiệp đồng, 4 nội ứng của ta ở vị trí canh gác, Tiểu đoàn 410 của tôi tiến vào tháp canh thì anh Biện sẽ tiêu diệt tên đồn trưởng. Tiếp đó, 3 chiến sĩ ở các vị trí gác kêu gọi lính đầu hàng”.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chỉ tính riêng các trận đánh “chia lửa” với chiến trường Điện Biên Phủ, quân và dân miền Tây Nam Bộ đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn, bức rút 1 quận lỵ, san bằng nhiều đồn bốt và mở rộng nhiều vùng giải phóng bao la. Những thắng lợi rực rỡ đó đã cổ vũ mạnh mẽ quân và dân tiếp tục kiên cường chiến đấu, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang rộng khắp, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn đi đến thắng lợi cuối cùng.

(Nguồn tham khảo: Báo Quân đội Nhân dân)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn