TÀU NAM VANG CHẠY NGANG CẦN CÁT (1)
Nghề thợ bạc sẽ giúp tôi mưu sinh dễ dàng hơn chăng? Người đời thường nói câu “Thông ngôn kỷ lục, bạc chục, không màng; Lấy chồng thợ bạc, đeo vàng đỏ tay”. Ai cũng tưởng như vậy.
Thế mà, xui rủi, đây là thời kỳ kinh tế thế giới bị khủng hoảng (1929-1933), càng lúc chiều hướng khủng hoảng lan rộng đến các nước thuộc địa Pháp ở Đông Dương. Ai dè, học xong nghề thợ bạc, tôi cũng khó tìm việc làm. Đi đâu, tôi cũng thấy người nghèo, thiếu trước, hụt sau; ai có tiền, có của dư đâu mà làm đồ trang sức! Tôi nghĩ đến chuyện phải đi xa, may ra có thể dễ kiếm việc làm. Nhìn lại gia đình: các anh trai lớn của tôi đều làm việc ở Sài Gòn; các chị có chị sáu sau khi lấy chồng đã sang Nam Vang lập nghiệp. Tôi còn đang băn khoăn không biết chọn nơi nào giữa hai địa điểm Sài Gòn và Nam Vang thì anh chị sáu đã viết thư thúc giục tôi sang Nam Vang, với lời khuyên hết sức thiết thực: “Ở bên này, cậu chín dễ tìm việc làm hơn!”
Thế là, một buổi sáng, tại bến tàu chạy từ Vĩnh Long -Sa Đéc qua Nam Vang, tôi quyết định xách chiếc va-li cũ và cây đờn mandoline, bước xuống tàu...
Khoảng thời gian những năm 1930 trở đi, đường thủy từ Cao Lãnh lên Nam Vang có mây chiếc tàu nhỏ (chaloupe): Lợi An, Vạn An, Nghĩa An, Hông An. Còn nêu đi lên Chợ Lớn có chiếc Hồng Hoàng. Ngoài ra, có ba chiếc tàu Nam Long, Thuận Sanh, Hòa Sanh, Hồng Sanh chạy từ Cao Lãnh - Châu Đốc, đi qua Mỹ Luông, Chợ Thủ, Chợ Vàm, Tân Châu, Hồng Ngự...
Bên cạnh đó, loại tàu lớn hơn chạy Sài Gòn - Nam Vang có 4, 5 chiếc mới. Trong mấy chiếc này, có chiếc Long Hồ, chủ tàu người Việt là ông Phán Nuôi. Bốn chiếc còn lại là của chủ người Pháp: Louis Blanchet, Jules Rueff, Mekong, Battambang. Tôi thường chọn chiếc Louis Blanchet để đi vì nó là chiếc tàu lớn, có cabin để nằm riêng. Nhưng thiệt ra, tôi vẫn thích ngồi chơi ở ghế bố nằm phía sau tàu.
Khi bước xuống tàu, tôi chọn một ghế bố ngồi tương đối dễ ngắm cảnh trên sông. Tàu chạy khỏi Cao Lãnh khá xa; bấy giờ, buồn tình, tôi lấy cây đờn mandoline ra đánh chơi. Càng đờn, càng hào hứng! Mải mê đánh đờn, đến lúc ngẩng lên, tôi nhận ra Trần Ngọc Mỹ, anh bạn học cũ đang ngồi kế bên mình. Cũng ngẫu hứng, Mỹ bảo tôi đờn cho ảnh ca bài Tây Thi, kể chuyện về Lý Nguơn Bá. Bỗng dưng, hai chúng tôi làm không khí trên tàu “xôm tụ” hẳn. Hành khách và mấy anh mạch- lô ngồi quanh thích thú, vừa coi, vừa nghe và tán thưởng. Câu chuyện đờn ca của tụi tôi hóa ra giúp vui hành khách, khiến ông Phó Cò tàu vui ra mặt. Ông tỏ ra ân cần với “hai nghệ sĩ bất đắc dĩ” chúng tôi. Ông còn hứa hẹn sẽ không lấy tiền vé tàu tụi tôi. Tôi nghe cũng cảm thấy vui vui, cười tủm tỉm với Trần Ngọc Mỹ.
Tàu chạy cả tiếng đồng hồ, sắp ra tới vàm sông, Mỹ không hát nữa, bỏ đi mướn ghế bố nằm. Tôi cũng thôi không đờn, ngả lưng trên ghế bố sau đuôi tàu. Đã nằm thì hay suy nghĩ mông lung! Tôi nghĩ đến gia đình và cảm thấy mình đáng trách vì chưa làm cho ba má yên lòng. Rồi đây đến Nam Vang, mình sẽ làm gì để có công ăn, việc làm? Tôi đã từng theo nhà đi chơi ở Nam Vang từ mấy năm trước, từng phụ việc lấy thuốc sau khi ba tôi coi mạch, bốc thuốc cho bệnh nhân (hồi nghề nghiệp đông y hưng thịnh, ba tôi có hai tiệm thuốc ở Nam Vang, nằm trên đường Hassakan và An Dương). Nhưng, giờ đây, chính là lúc tự mình phải kiếm việc làm, tự xoay xở lo cho bản thân mình, tôi có chút lo nghĩ.



