CHƯƠNG I
ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI 1/ - Địa lý tự nhiên:
Tây Ninh là một tỉnh miền Đông Nam bộ, nằm về phía Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh giáp với nước Campuchia. Thị xã Tây Ninh cách trung tâm thành phố khoảng 88 km đường chim bay, 99 km tính theo quốc lộ 22 và 22b.
Vào đầu thế kỷ 17 mảnh đất Tây Ninh còn là một vùng rừng rậm hoang vu và đầy thú dữ. Đến năm 1658, mới có những tộc người Việt đầu tiên đến đây khai hoang lập ấp và làm ăn sinh sống. Trải qua bao thăng trầm, biến đổi của lịch sử, tên gọi và địa giới cũ, Tây Ninh nhiều lần thay đổi. Từ đạo Quang phong thuộc phủ Gia Định (1698) thành phủ Tây Ninh của tỉnh Gia Định (1838). Đến năm 1871, mới thành tỉnh Tây Ninh và ranh giới của tỉnh (như ngày nay) được chính thức công nhận kể từ năm 1890. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ tháng 8-1945 đến năm 1951 Tây Ninh là một tỉnh riêng tháng 5-1951, ta sát nhập 2 tỉnh Tây Ninh và tỉnh Gia Định thành tỉnh Gia Ninh. Cuối năm 1954, ta lại tách ra làm 2. Tây Ninh trở lại ranh giới cũ. Thời ngụy quyền thuộc Mỹ, chúng đã cắt quận Phú Đức (Trảng Bàng) nhập vào tỉnh Hậu Nghĩa. Lúc chuẩn bị cho Tổng tiến công mùa Xuân 68 huyện Trảng Bàng được tách ra cộng với một số huyện ven thành phố thành lập phân khu một. Năm 1972, huyện Trảng Bàng được trả về cho Tây Ninh. Ngày nay ranh giới hoàn chỉnh của Tây Ninh có: phía Bắc và Tây giáp nước Campuchia, chiều dài biên giới là 232 km, phía Nam giáp tỉnh Long An 13,5km và thành phố Hồ Chí Minh 32 km, phía Đông giáp tỉnh Sông Bé 123 km đường ranh tỉnh lấy dọc theo sông Sài Gòn.
Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 4.030 km2. Địa hình tương đối bằng phẳng ở diện rộng, có xu hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam. Dạng địa hình cao đổi thoải lượn sóng có độ cao trung bình so với mặt biển từ 20m đến 60m, chủ yếu nằm ở phía Bắc tỉnh. Dạng trung bình có độ cao từ 10m đến 20m, chạy dọc giữa tỉnh từ Thị Xã xuống Gò Dầu, Trảng Bàng. Dạng địa hình thấp, bằng ven sông có độ cao trên 5m, là vùng đất ven sông Vàm Cỏ Đông, sông Sài Gòn và các trạch phụ lưu của 2 sông này. Trên dạng địa hình tổng thể, có độ cao không quá 60m, nổi lên ngọn núi Bà Đen cao 986m, đây là ngọn núi cao nhất Nam bộ, giống như một chiếc nón lá khổng lồ úp giữa những cánh đồng phẳng, những đồng lúa, đồng màu bạt ngàn xanh tốt. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khu vực Núi Bà Đen là một địa điểm tốt, để cho các nhóm Đảng hoạt động khi bị lộ, bị kẻ thù khủng bố, tạm rút về đây ẩn náu chờ thời cơ. Đế quốc Mỹ sau này cũng lợi dụng đỉnh Núi cao để đặt trạm viễn thông nhằm khống chế cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn và cả miền Đông và Campuchia. Nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt giữa ta và địch để giành giật nhau từng triền núi, hang đá.
Khí hậu Tây Ninh mang những nét điển hình của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm. Nhiệt độ trung trung bình cả năm là 27o4, tháng giêng có nhiệt độ thấp là 17o6, nhiệt độ cao nhất là vào tháng 4: 37o. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm ít, nhưng sự chênh lệch giữa ngày và đêm cao: Vào buổi sáng 24o4, trưa 32o, chiều 30o và đêm 27o. Đây là điều kiện thuận lợi để tạo ra sự tích lũy chất tinh bột cho các lại cây trồng như lúa, mía, mì, đậu phộng, bắp… Lượng mưa trung bình hàng năm ở Tây Ninh là 1.508 mm, Độ ẩm trong không khí trung bình là 79%. Lượng bốc hơi cả năm trung bình là 1.434mm, tổng số giờ nắng trong năm. là 2.728 giờ. Khí hậu thời tiết trong năm được chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa chủ yếu tập trung vào mùa này (chiếm 90% lượng mưa cả năm với khoảng 104 ngày mưa). Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, lượng mưa rất ít (khoảng 12 ngày mưa với 80mm – 100mm).
Được thiên nhiên nhiệt đới ưu đãi, rừng và các sinh vật khác phát sinh, phát triển nhanh, mạnh, đa dạng và phong phú. Rừng có nhiều gỗ quý như: Giáng hương, Cẩm lai, Cẩm xe, Trai, Dầu, Chò, Sao, Gõ. Chẳng những có nhiều chủng loại mà còn giàu về sản lượng, có nơi đạt từ 100 đến 200 m3 gỗ tròn 1 ha. Rừng còn là một vườn cây thuốc Nam quý giá với nhiều loại thông dụng như hả thủ ô, mã tiền, sa nhân, ba kích, ké đầu ngựa, bạch đậu khấu…. được dùng rộng rãi trong việc điều trị bệnh và bồi dưỡng sức khỏe cho nhân dân. Rừng còn có hàng chục loại cây ăn quả (như: Trường, mít, gùi, thị…) hàng trăm loại cây có thể dùng làm rau ăn. Đi đôi với nguồn tài nguyên về thực vật, nguồn tài nguyên về động vật ở Tây Ninh cũng khá phong phú, bao gồm nhiều loại từ cọp, voi, heo rừng, bò rừng, khỉ, nhím, cheo, trăn… cho đến chim muông. Nhiều loại bò sát cũng được xác minh là có thể dùng làm dược liệu tốt như các loại rắn, thằn lằn, tắc kè, kỳ đà, ở dưới lòng đất có nhiều loại khoảng sản quí. Dưới sông suối có những vùng đất thấp bị ngập nước có các loại cá sinh sôi nẩy nở quanh năm. Cây cối tươi tốt, mùa nào thức ấy. Đây chính là kho thực phẩm dự trữ dồi dào cho nhân dân ta từ xa xưa, cho bộ đội và nhân dân những năm kháng chiến chống giặc. Đây cũng chính là tài nguyên kích thích lòng tham của bọn tư sản nhảy vào khai thác để làm giàu. Trong chiến tranh, Mỹ - Ngụy đã dùng bom đạn và chất độc hóa học để phá hoại rừng làm cho nguồn tài nguyên này bị phá hủy nghiêm trọng. Ngày nay Tây Ninh chủ trương trồng cây trả lại màu xanh cho rừng. Đồng thời có những chính sách pháp lệnh cụ thể về việc bảo vệ rừng, bảo vệ thú rừng, sử dụng gây nuôi và khai thác một cách hợp lý nhằm đáp ứng được nhu cầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đời sống nhân dân.
Tây Ninh có 2 con sông lớn chảy qua ở phía tây tỉnh là sông Vàm Cỏ Đông dài 220km bắt nguồn từ Campuchia băng qua những cánh rừng biên giới chảy vào đất Tây Ninh (đoạn dài 180km) xuống Long An và đổ ra biển Đông. Dòng sông này rất tiện lợi giao thông đường thủy, giặc lợi dụng đánh ra phía Tây và Campuchia, dòng sông đã từng làm mồ chôn quân cướp nước, nó là một chứng nhân của lịch sử, ghi dấu bao chiến công oai hùng của quân và dân ta. Về phía Đông có sông Sài Gòn bắt nguồn từ Campuchia dài 250km chảy qua Tây Ninh theo hướng Bắc Nam (đoạn dài 123km) lòng sông không sâu, rộng nhưng ghe thuyền có thể đi lại dễ dàng. Hiện nay nó là nguồn cung cấp nước dồi dào cho hồ Dầu Tiếng, một công trình thủy lợi lớn của cả nước.
Tây Ninh là cửa ngõ phía tây bắc thành phố Hồ Chí Minh có đường biên giới giáp Campuchia 232km. Đây là một vị trí có ý nghĩa chiến lược quan trọng về các mặt chính trị, kinh tế và quốc phòng. Địa thế núi rừng hiểm trở của Tây Ninh đã trở thành những căn cứ kháng chiến chống ngoại xâm của ông cha ta, ngay từ buổi đầu khi mới đặt chân đến vùng đất này, cho đến lúc có Đảng lãnh đạo, những chiến khu An Cơ, căn cứ C.1000, căn cứ 105, căn cứ địa Dương Minh Châu (từ 1952 đến 1975), chiến khu Bời Lời và còn biết bao địa danh khác mãi mãi đi vào lịch sử. Đây là niềm tự hào của quân và dân Tây Ninh trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà trực tiếp là Tỉnh Đảng bộ Tây Ninh. Rừng Tây Ninh còn là căn cứ cho sự phối hợp chiến đấu giữa những người yêu nước Việt Nam và Campuchia cùng chung sức chống quân xâm lược. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường« Trả lời #2 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2018, 05:26:21 am » | 2/ - Về địa lý kinh tế:
Với điều kiện tự nhiên về địa hình, đất đai khí hậu, sông ngòi và các nguồn tài nguyên khác của tỉnh, Tây Ninh có một tiềm năng to lớn về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp.
Trải qua hàng mấy thế kỷ từ khi mới khai phá lập nghiệp, người dân Tây Ninh chủ yếu sống bằng nghề nông và nghề rừng. Kho tài nguyên thì dồi dào mà cuộc sống của người dân thì khổ cực trăm bề, bởi vì đất nước còn đang lệ thuộc ách thống trị của bọn phong kiến, thực dân, đế quốc.
Dưới thời Pháp thuộc, nông dân là những người trực tiếp khai vỡ đất đai nhưng không được làm chủ mảnh đất của mình. Đất phù sa mới nhiều phèn khó canh tác, được một số ruộng tốt đều tập trung trong tay bọn địa chủ và bọn quan lại địa phương. Sản xuất manh mún cá thể, kỹ thuật canh tác lạc hậu gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Diện tích canh tác không được mở rộng, năng suất cây trồng không cao, làm lụng vất vả quanh năm nhưng không đủ gạo ăn.
Đất Tây Ninh phần lớn là đất xám trên phù sa cổ, loại đất này thích hợp với những loại cây ngắn ngày như mía, đậu phộng, mì, thuốc lá,… bọn tư bản cũng đã đầu tư vào đây để khai thác. Chúng đã xây dựng nhà máy đường ở Thanh Điền với trên 500 công nhân, (kể cả công nhân trồng mía). Về sau bọn chủ Pháp cho mở rộng thêm diện tích trồng mía và trang bị máy ép đường, loại có công suất 250 tấn mía cây/ngày để tăng cường bọc lột lao động của công nhân. Bên cạnh đó, chúng còn chiếm dụng đất đai của nhân dân để làm đồn điền cao su bóc lột nguồn công nhân rẻ mạt tại chỗ, trong thời gian này, công ty cao su Đông Dương (SIBH) của Pháp đã xây dựng được một số đồn điền lớn ở Bến Củi, Vên Vên… Đây là loại đồn điền khá quy mô thu hút nhiều công nhân, vì nó có cả nhà máy chế luyện cao su. Ngoài ra còn có nhiều sở cao su của bọn địa chủ, tư sản ngoại kiều khác như sở Cầu Khởi, sở Ác nô, sở Ôcônen, sở Syna, sở Phơ-răng-sy-ny, sở Sốc-Văng… Một số sở địa chủ người Việt có diện tích khoảng 10 đến 15 ha ở rải rác khắp tỉnh và dự kiến còn mở nhiều đồn điền… Trong các đồn điền, bọn địa chủ đã bóc lột sức lao động của công nhân một cách dã man, mỗi ngày họ làm việc từ 10 đến 14 tiếng đồng hồ lại còn phải gánh chịu bao nhiêu roi vọt trút lên đầu.
Nguồn lợi lớn nhất mà thực dân Pháp thu được trên mảnh đất hơn 400 ngàn hécta của Tây Ninh là lâm sản. Rừng chiếm ½ diện tích đất đai trong toàn tỉnh,. Sản lượng gỗ cao, lại dễ khai thác vì địa hình bằng phẳng, rất thuận tiện cho việc vận chuyển. Sau gỗ còn có nhiều lâm sản phụ quan trọng khác như mây, tre, lá, củi, dầu trong, mủ chai và rất nhiều thịt thú rừng. Khi mới chiếm Tây Ninh, thực dân Pháp đã áp dụng ngay chính sách khoanh rừng, tổ chức kiểm soát chặt chẽ để làm chủ rừng, bán gỗ thu thuế lâm sản, chúng đã thành lập ở Tây Ninh một sở kiểm lâm gồm 7 quận và nhiều đồn. Ở mỗi quân có một tên sếp và một số viên chức trông coi cùng với một đội lính thường xuyên rình rập, bắt bớ phạt vạ những người làm rừng sai với quy chế do chúng đặt ra.
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gần như địch không quan tâm chỉ ở Thị xã có 1 nhà máy đèn, 1 nhà máy nước qui mô nhỏ với khoảng vài chục công nhân. Trong toàn tỉnh có hơn 10 nhà máy xay xát gạo, công suất từ 5 đến 10 tấn lúa/ngày và một số xí nghiệp thủ công khác như xưởng giấy, lò gạch, che ép đường, bọng ép dầu đậu phộng, lò rèn, lò than. Tất cả các cơ sở sản xuất trên đều thuộc tiểu chủ người Việt và Hoa kiều. Các tiểu chủ này phải nộp thuế khá cao cho bọn thống trị, nên họ đã bóc lột người làm công không kém gì Pháp, thậm chí có nơi còn nặng nề hơn, bởi vì họ bóc lột theo cung cách của thực dân kết hợp với kiểu bóc lột của địa chủ, phong kiến. Ngoài những thủ đoạn bóc lột về kinh tế, thực dân Pháp còn áp dụng một chế độ thuế khóa hà khắc đối với nhân dân ta. Chúng đặt ra mọi thứ thuế như điền thổ, nhà cửa, trâu bò, patăng, môn bài… và dã man nhất là thuế thân. Tình cảnh này đã đưa cuộc sống của người dân Tây Ninh ngày càng đi vào chỗ cùng cực bế tắc.
Thời Pháp thuộc là như thế, thời Mỹ Ngụy nhằm mục đích biến Tây Ninh thành một tiền đồn vững chắc để bảo vệ cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn, đế quốc Mỹ đã đổ vào đây rất nhiều bom đạn, chất độc hóa học và các phương tiện chiến tranh khác hình thành nên một hệ thống đồn bót và căn cứ quân sự dầy đặc. Vì thế, diện tích đất đai nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, ở những vùng xảy ra chiến sự nhân dân không thể sản xuất được, phải bỏ ruộng, bỏ vườn chạy vào thị trấn, thị xã. Điều này đã làm cho nền kinh tế nông nghiệp bị đình đốn, không phát triển được. Bom napan và chất độc hóa học của Mỹ đã hủy diệt rừng một cách nghiêm trọng, làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng thêm kiệt quệ. Việc khai thác rừng và các nguồn lâm sản phụ khác đều tập trung trong tay bọn cai thầu và bọn tướng tá Ngụy với ý đồ khai hoang phá rừng, phá căn cứ cách mạng, địch cho tay chân tự do phá rừng làm gỗ, củi, và xẻ đường ngang dọc chia nhỏ vùng rừng. Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở những di sản của thực dân Pháp để lại, Mỹ Ngụy có trang bị thêm một ít máy móc và thiết bị kỹ thuật không đáng kể. Hàng hóa ế thừa của phe tư bản chủ nghĩa tràn vào thị trường, đã bóp chết những ngành nghề truyền thống ở địa phương. Nền kinh tế Tây Ninh vốn đã què quặt lại bị chiến tranh tàn phá liên miên, sản xuất đình đốn, đời sống của nhân dân trong vùng tạm chiếm vô cùng khó khăn. Còn ở vùng tự do (địch kêu là vùng oanh kích tự do), dưới sự lãnh đạo của chính quyền cách mạng, nhân dân ta vượt mọi khó khăn, về thiên nhiên địch họa vừa sản xuất, vừa chiến đấu, nhằm đáp ứng được phần nào yêu cầu của công cuộc kháng chiến và đời sống.
Do điều kiện địa hỉnh tương đối bằng phẳng, hệ thống đường giao thông ở Tây Ninh khá thuận tiện. Về đường bộ: có quốc lộ 22 và 22b chạy suốt từ thành phố Sài Gòn (phía Nam) lên bắc tỉnh, qua Campuchia.
Tỉnh lộ 13 xuyên suốt từ đông sang tây: chạy từ sông Sài Gòn qua thị xã Tây Ninh đi Bến Sỏi và đến biên giới Việt Nam – Campuchia. Tỉnh lộ 4 chạy lên phía Bắc từ Thị xã qua Kheđon, Đồng Pan đi Kà-tum và đến biên giới Việt Nam – Campuchia bắc Sông Bé. Xuyên giữa rừng nối liền lộ 4 tại Đồng Pan với quốc lộ 22b, địch làm đường (Trần Lệ Xuân) để khai thác gỗ và tiếp cận căn cứ ta. Tỉnh lộ 26 xẽ giữa tỉnh chạy xuống phía Nam băng qua các vùng nông thôn trù phú thuộc các huyện Dương Minh Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng nối với lộ 22 cửa ngõ vào Sài Gòn. Nối liền các trục lộ chính là một mạng lưới đường nông thôn chằng chịt, phục vụ tốt cho việc đi lại của nhân dân và việc vận chuyển hàng hóa bằng các loại xe. Về đường thủy có 2 sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông, nhiều con rạch nhỏ thuyền ghe có thể lưu thông được quanh năm như rạch sóc Ôm, rạch Tây Ninh, rạch Trảng Bàng, rạch Suối Đôi…. Trong thời gian chiến tranh, thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đã sử dụng hệ thống đường giao thông này chủ yếu để phục vụ cho mục đích quân sự, nhằm thực hiện các cuộc hành quân càn quét vào các vùng tự do của ta. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường« Trả lời #3 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2018, 05:27:31 am » | 3/ - Địa lý nhân văn và xã hội:
Dân số Tây Ninh thời Pháp thuộc năm 1921 có khoảng 200.000 người, năm 1942: 200.000 người, thời Mỹ Ngụy năm 1969: 335.301 người, năm 1972: 392.840 người. Sau giải phóng 30-4-1975 có khoảng 578.000 người. Theo tổng điều tra dân số 1978 có 701.000 người. Mật độ dân số trung bình trong toàn tỉnh là 174 người/km2, nơi có mật độ cao nhất là huyện Hòa Thành: 900 người/m2, thấp nhất là huyện Tân Biên 42 người/km2.
Từ khi vùng rừng núi hoang vu tở thành nơi cư trú của con người cho đến nay, ở Tây Ninh có 3 dân tộc anh em cùng sống đoàn kết gắn bó với nhau, đó là người Việt, Khơme và Chàm. Người Việt ở Tây Ninh là những người có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một số tỉnh Miền Bắc vào cửa Cần Giuộc theo đường sông lên Tây Ninh buôn bán, trao đổi hàng háo với người địa phương rồi dần dần trụ lại đây làm ăn sinh sống. Dân tộc Việt phát triển nhanh, ngày càng đông, yêu câu mở rộng địa bàn sản xuất ngày càng trở nên cấp bách, do đó họ tiến dần lên vùng Trảng Bàng, Gò Dầu và tận chân núi Chiện (Bà Đen) để khẩn đất lập làng, hình thành nên những vùng cư dân đầu tiên của người Việt ở Tây Ninh. Trước và qua 2 cuộc kháng chiến, dân tộc Việt luôn luôn thể hiện được truyền thống yêu nước chống ngoại xâm mãnh liệt của mình, biết đoàn kết với các dân tộc anh em trong công cuộc giải phóng đất nước. Người Khơme sống quây quần lại với nhau thành từng phum, sóc. Sống chủ yếu dựa vào hái lượm, đốt nương, tỉa rẫy. Vào thời Pháp thuộc họ tập trung lại trong 4 tổng (Chơn, Bà Đen, Tabenduyn, Băng-chơ-rum, Khăn Xuyên) gồm 15 làng. Qua 2 cuộc kháng chiến do chiến tranh tàn phá ác liệt, đồng bào Khơme phải di chuyển tứ tán đi nhiều nơi, không còn sống theo từng làng riêng biệt nữa mà chung sống với người Việt, phần lớn là ở những vung rừng và nông thôn hẻo lánh. Dân số Khơme phát triển chậm, hiện nay có khoảng 18.654 người. Dân tộc Chàm (1692) đã cùng người Việt từ miền trung Trung bộ tiến lần về phía Nam, về sau định cư lại ở 2 nơi là Châu Đốc và Tây Ninh. Ở Tây Ninh người Chăm quy tụ lại thành 2 xóm: xóm Chàm Đông Tác (nay thuộc ấp Thái Vĩnh Đông – Phường 1 Thị xã Tây Ninh) và xóm Chàm Tạo Tác (xã Tân Hưng, huyện Tân Biên) người Chàm theo đạo Hồi, thuộc phái Pa-ni không ăn thịt heo và chôn xác chết. Giáo đường được xây theo kiểu La-mát (Ấn Độ, Ả Rập) không giống người Chàm ở Bình Định, Phan Rang. Hiện nay có khoảng 1.400 người Chàm đang cư trú trên địa bàn Tây Ninh.
Ngoài 3 dân tộc lớn đã nêu trên, còn có một số dân tộc ít người khác như dân tộc Tà Mun (576 người), Mường (74 người), Thổ (9 người), Ê đê (6 người) và kiều dân Ấn Độ (53 người, Pháp (13 người), Thái Lan (11 người), Lào (7 người), Tiệp Khắc (3 người), Nhật (4 người) và người Việt gốc Hoa (9.698 người) (theo số liệu điều tra năm 1978).
Đồng bào các dân tộc với phong cách sống hào hùng của cha ông đã để ra bao công sức và xương máu để khai lập và giữ gìn mảnh đất Tây Ninh từ khi mới thành lập cho đến nay. Dân tộc Kinh sống chan hòa đoàn kết với các dân tộc anh em trong quá trình sản xuất, chống thiên nhiên thú dữ và giặc ngoại xâm, chống mọi chính sách chia rẽ dân tộc của kẻ thù.
Đại bộ phận dân số Tây Ninh là nông dân lao động cần cù và sáng tạo. Cách đây khoảng 300 năm về trước, Tây Ninh còn là vùng rừng rậm hoang vu vắng bóng người, thuở ấy ông cha ta đã phải đạp rừng xông tới tìm đường đi mở đất, quây quần bên nhau để chống thứ dữ, nương tựa vào nhau trong cảnh sống heo hút vất vả. Bằng những công cụ lao động thô sơ trong buổi ban đầu, nhân dân đã vượt qua muôn vào khó khăn gian khổ từng bước tiến lên cải tạo thiên nhiên. Khi thực dân Pháp nhảy vào xâm chiếm Tây Ninh, tất cả những vùng đất, những mảnh ruộng tốt đã bị chúng chiếm đoạt.
Vào đầu thế kỷ 20, trong chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai, thực dân Pháp cho xây dựng ở Tây Ninh một số đồn điền cao su, một vài cơ sở sản xuất chế luyện cao su, xưởng chế biến mía đường, nhà máy đèn, nhà máy nước…. Ruộng đất bị chiếm đoạt, nông dân không có đất để sản xuất bắt buộc phải bán sức lao động của mình cho bọn địa chủ ở các đồn điền và nhà máy để kiếm sống. Từ đó giai cấp công nhân được hình thành, tuy số lượng không đông, tính chất không thuần nhất (bần nông, cố nông), điều kiện làm việc không hiện đại nên tinh thần tập thể và ý thức tổ chức kỷ luật chưa chặt chẽ, nhưng họ lại bị áp bức bóc lột quá nặng nề, điều này đã làm cho mâu thuẫn giữa họ với bọn tư bản thống trị ngày càng trở nên gay gắt. Xuất phát từ giai cấp nông dân, sẵn có lòng căm thù giặc sâu sắc của người dân nô lệ bị cướp đất và sẵn có truyền thống yêu nước của dân tộc lại được sự cổ vũ mạnh mẽ của phong trào công nhân trong cả nước, giai cấp công nhân ở Tây Ninh đã sớm thấy được vai trò và trách nhiệm của mình trong cuộc cách mạng, nên họ đã đoàn kết chặt chẽ với giai cấp nông dân, tiến hành cách mạng lật đổ giai cấp thống trị.
Giai cấp tư sản và địa chủ ở Tây Ninh quá nhỏ bé, chiếm tỷ lệ không đáng kể so với dân số toàn tỉnh, nhưng đó lại là giai cấp có thế lực mạnh nhất trong xã hội đương thời được bọn thống trị nuôi dưỡng để làm tay sai cho chúng.
Hoàn cảnh xã hội phức tạp, đời sống kinh tế quá khó khăn, thiên nhiên thú dữ và giặc cướp hoành hành, chiến tranh xảy ra liên miên, sinh mạng của con người bị nhiều mối đe dọa. Vốn hiểu biết của con người về thiên nhiên và xã hội còn nhiều hạn chế, con người còn tin sự che chở cứu vớt của trời phật, lấy đó làm chỗ dựa về tinh thần. Đó là điều kiện tốt để cho ba tôn giáo lớn lần lượt ra đời và tồn tại ở Tây Ninh cho đến ngày nay.
Đạo Phật xuất hiện rất sớm, gắn liền với quá trình khai vỡ đất đai và bảo vệ cuộc sống của nhân dân Tây Ninh nó có phần về đạo nghĩa làm người phù hợp với đạo Phật. Cảnh non thâm cùng cốc của núi Bà Đen thích hợp với các thầy tu lập chùa sùng đạo. Nhiều vị công thần sau khi dẹp giặc xong lại lui về lập chùa tu niệm. trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ có một số chùa Phật là nơi ẩn náu tốt cho những người yêu nước, các cán bộ đảng viên của ta khi bị địch truy lùng và bắt bớ. Đạo Phật rất gần gũi với nhân dân. Liên quan bản tính nhân hậu, hiếu thảo, hào hiệp, nhân nghĩa, trí dũng, làm lành kính dữ, diệt tà cứu dân… vì thế gần như người Việt Nam nào cũng thờ cũng tổ tiên, ông bà trong những ngày rằm lớn ở chùa đã trở thành tập quán của mọi người, mặc dù họ không phải là tăng ni phật tử.
Đạo Thiên chúa người mở đường cho Pháp xâm lược, có ở Tây Ninh là do các linh mục bị triều đình Huế truy nã, phải trốn vào Nam lãnh nạn, tìm đến vùng đất Thala quy tụ một số đồng bào ở Lò mo, Trường Đà thành lập nên họ Đạo Tha La vào đầu thế kỷ 19. Khi Pháp chiếm Tây Ninh (1861), Họ đạo này phát triển mạnh, đã cử nhiều linh mục lên Thị xã thành lập họ Đạo Tây Ninh và đi nhiều nơi trong tỉnh để thành lập tiếp các họ Đạo khác. Đạo có quan hệ chặt chẽ với bọn thống trị. Họ định đào tạo một số trí thức và linh mục sau đẻ ra Đảng Tân Đại Việt (Nguyễn Tôn Hoàng). Thời Ngô Đình Diệm cùng với nhóm giáo dân mới di cư từ miền Bắc vào (1954) họ thành lập các “khu trù mật”, “khu dinh điền”, “khu tị nạn công sản” chống cộng triệt để gây nhiều khó khăn cho phong trào cách mạng địa phương. Phần lớn tín đồ Thiên Cháu giáo súng đạo tin Cháu bị tầng lớp cha cố lợi dụng mê hoặc mù quáng. Trong cuộc sống họ bị áp bức bóc lột năng nề như bao nhiêu người khác nên khi được giác ngộ lòng yêu nước họ cam thù giặc ngoại xâm. Ngoài một số bị kẻ thù mua chuộc thật sự làm tay sai cho giặc, chống phá cách mạng, số còn lại đã cùng với nhân dân địa phương tìm mọi cách giúp đỡ cán bộ ủng hộ cách mạng góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đạo Cao Đài ra đời ở Tân An rồi chuyển lên Tây Ninh năm 1926, do một số quan lại địa chủ bất mãn Pháp theo phong trào Đông du từ Cường Để theo Nhật với thuyết Đại Đông Á qui tụ từng lớp trung gian đứng ra thành lập, họ bày ra việc lập đàn cầu cơ, một biện pháp, thủ đoạn lừa mị kéo nông dân yêu nước không có sự lãnh đạo đúng, bị đàn áp không lối ra. Họ cho đây là quốc đạo và giải thích: tuy thờ Thích ca, Jêsu, Không Tử, Phật bà Quan Âm nhưng đạo Cao Đài được sáng lập trong nước chứ không phải từ ngoài du nhập vào. Khi cần họ cũng có thể lý giải quốc đạo là đạo làm quốc sự. Hai câu đối trước mỗi thánh thất đều có nên rõ: “Dân chủ mục, tự do quyền” và trong lòng quần chúng tín đồ đều tâm niệm câu “Nước nhà Nam là của người Nam!”. Trên thực tế, đó chỉ là cách mị dân của một số lãnh tụ và chức sắc được phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ lôi kéo sử dụng để tranh giành ảnh hưởng quần chúng với Đảng ta. Chính thủ đoạn lừa mị đó mà chỉ trong một thời gian ngắn đạo Cao Đài đã thu hút được hàng chục vạn tín đồ.
Đối với tầng lớp chức sắc cấp cao trừ một số ít còn có tin thần dân tộc, có lòng yêu nước, còn đại đa số mượn danh nghĩa đạo để hoạt đông nhằm mục đích chính trị riêng với ý định xưng bá đồ vương. Họ đã tiếp tay với Đế quốc chống lại cách mạng, đi ngược lại quyền lợi của quân dân và dân tộc. Quần chúng tín đồ tuy có bị họ lợi dụng để làm tay sai cho giặc, nhưng tuyệt đại đa số là nông dân cơ bản có tinh thần yêu nước có căm thù bọn bóc lột khi họ được hiểu lẽ phải, sự thật nhận ra kẻ thù cướp nước và bè lũ bán nước nên đồng bào tín đồ sẵn sàng đi theo cách mạng, cùng toàn dân đứng lên đánh đuổi bọn đế quốc và tay sai.
Thời kỳ này, ở Tây Ninh còn các đảng phái hoạt động như: Đảng Đại Việt ở Gò Dầu (Võ Thành Cứ), Đảng Tân Đại Việt trong công giáo Tha La, Đảng Việt Nam phục quốc trong Cao Đài xu hướng của họ phục vụ đế quốc, tranh giành quần chúng với Đảng ta. Riêng tổ chức Thiên địa hội có xu hướng tiến bộ vì dân tộc độc lập. |
|
|