Tên câu chuyện: “ Dấu ấn B52 ”
Tên câu chuyện: “ Dấu ấn B52 ”
1. Chiến dịch Saravane
Mùa xuân năm 1971, ông Chiểu rời quê hương Nam Định, mang theo ý chí đanh thép và quyết tâm sắt đá của một người con đất Thành Nam sẵn sàng xả thân cho độc lập dân tộc lên đường nhập ngũ. Sau những ngày huấn luyện dồn dập, ông biên chế vào Đoàn 559 – những người lính "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Cuộc hành quân vào Nam không phải bằng đôi chân vạn dặm mà là trên những chiếc ô tô vận tải phủ kín lá ngụy trang.
Suốt bảy ngày đêm ròng rã, chiếc xe lao đi trong màn đêm của dãy Trường Sơn hùng vĩ, băng qua những cung đường mà bom đạn quân thù có thể trút xuống bất cứ lúc nào. Điểm dừng chân cuối cùng là tỉnh Saravane, Hạ Lào. Vừa đặt chân đến mảnh đất Cánh Đồng Chum rồi tiến sâu vào thị xã Saravane được ba ngày, ông và đồng đội đã lập tức bị cuốn vào vòng xoáy hố lửa. Trận đánh giải phóng thị xã Saravane diễn ra vào một đêm không ngủ. Tiếng súng bộ binh xen lẫn tiếng pháo gầm vang từ nửa đêm đến tận lúc hửng sáng. Khi ánh bình minh vừa ló rạng qua những cánh rừng cháy sạm, chiến dịch giải phóng thị xã Saravane đã thành công.
2. Sức ép B52
Đơn vị ông di chuyển về bản Chân Nưa để đóng quân và lập trận địa. Tại đây, ông bắt đầu cuộc sống của một "con rái cá" chiến trường: đào hầm và bám trụ. Kẻ địch không cam chịu mất Saravane, chúng điên cuồng điều quân "đánh lống" ra hòng tái chiếm. Cái nhịp sống ở bản Chân Nưa lúc bấy giờ thật kỳ lạ và khắc nghiệt. Ban ngày,họ cùng nhau ghì chặt báng súng, đối mặt trực diện với quân địch khi chúng điên cuồng mở những đợt tấn công tái chiếm địa bàn. Màn đêm buông xuống, quân đội ta khó khăn chống chọi lại những cuộc tấn công bất ngờ từ địch. Tiếng gầm rú xé toạc bầu trời của những pháo đài bay bắt đầu thống trị không gian.
Sáu tháng ròng rã bám hầm, sống trong sự ẩm thấp đến tận cùng. Có những lúc ông nhìn xuống làn da mình, cảm thấy rêu xanh đã mọc lên vì thiếu ánh mặt trời và hơi ấm. Nhưng tất cả sự khổ cực đó chẳng thấm tháp gì so với trận bom định mệnh năm ấy.
Đêm đó, cả vùng Saravane rung chuyển như một trận động đất dữ dội. Những quả bom rải thảm từ độ cao hàng chục ngàn mét dội xuống không thương tiếc : “ Cái L-19 ấy, nó quyện đến đâu là thả bom đến đấy...rồi là máy bay T-28 cứ thế cày đạn xuống đất, may sao cánh bọn tôi ở hầm kỹ, đào hầm sâu nên không bị thương nặng”. Cuối cùng quân địch dùng “pháo đài bay” B52 để dồn quân ta vào đường cùng. Sức ép nghẹt thở ép chặt lấy lồng ngực của những người chiến sĩ trong căn hầm nhỏ chật hẹp. Một tiếng nổ chát chúa vang lên gần đến mức cả thế giới xung quanh họ bỗng chốc lặng đi. Cơn đau nhói xuyên qua màng nhĩ, và rồi ông cảm nhận được luồng chất lỏng nóng hổi chảy ra từ hai bên tai. Đó là máu! Sức ép kinh hoàng của B52 đã lấy đi một phần thính giác của người lính trẻ.
Dù hai tai chảy máu, dù thế giới xung quanh chỉ còn là những tiếng ù đặc, người chiến sĩ ấy vẫn không rời vị trí. Suốt 11 tháng năm 1972, ông vẫn bám trụ tại chốt, vẫn cầm súng chiến đấu dù cơ thể đã mang thương tật: “ Đêm hôm ấy, nếu tôi không ở lại căn hầm mà chạy lên chốt canh cách chừng ba cây số, có lẽ tôi cũng đã nằm lại nơi chiến trường năm 72 rồi”. Với ông lúc đó, chút đau đớn ấy không là gì so với sự ra đi, mất mát của những người đồng đội đã âm thầm nằm xuống vì bom đạn.
Mãi đến cuối năm 1972, ông mới nhận lệnh hành quân sang biên giới Campuchia rồi được lệnh rút ra Bắc điều trị. Hành trình ngược dòng Trường Sơn đưa ông qua Trạm 4-72, rồi tới Trạm 3, và về đến Hà Nội năm 1973. Tại quân y viện, ông được chuẩn đoán bị tổn thương thính giác do sức ép B52.Nhưng người chiến sĩ quả cảm ấy không dừng lại. Sau đợt điều trị ngắn ngủi, ông lại tiếp tục nhiệm vụ tại Tuyên Quang, Phú Thọ. Một lần nữa quay trở về Hà Nội bảo vệ công trường cầu Thăng Long – mạch máu giao thông quan trọng của Thủ đô lúc bấy giờ. Cho đến tháng 6 năm 1975, khi cánh cổng Dinh Độc Lập đã sụp đổ dưới sức nặng của xe tăng quân giải phóng, ông mới cầm quyết định phục viên về lại quê nhà.
Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày rời Saravane. Người chiến sĩ Trường Sơn của hiện tại là một ông lão tóc đã bạc màu, càng về già thính lực của ông càng kém đi và phải nhờ đến máy trợ thính. Với người cựu binh Đoàn 559 ấy, đôi tai mất đi một phần thính giác chính là tấm huân chương cao quý nhất, là dấu ấn của một thời ông đã đứng vững trước sức ép của “pháo đài bay” B52 để đổi lấy sự bình yên cho đất nước hôm nay.



