"Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống Quân chủng Hải quân Việt Nam Anh hùng".
"Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống Quân chủng Hải quân Việt Nam Anh hùng".
Người kể chuyện: Trung úy Trần Thị Thủy - cán bộ văn thư bảo mật của Lữ đoàn 146 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân và cũng là người con duy nhất của liệt sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Phương, người đã hy sinh trong trận hải chiến trên đảo Gạc Ma - quần đảo Trường Sa, ngày 14-3-1988.
Hôm đó, 14/3/1988, vào tầm 6h sáng, hơn 40 binh lính Trung Quốc rời tàu chiến mang vũ khí lên 3 xuồng nhôm tiến vào đảo Gạc Ma giật cờ của ta. Thiếu úy Trần Văn Phương và Hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội dũng cảm giành lại quốc kỳ, nên đối phương nổ súng khiến Thiếu úy Phương hy sinh, Hạ sĩ Lanh bị thương.
Nhiều nhân chứng lịch sử cho biết, trước khi đối mặt với binh lính Trung Quốc, Thiếu úy Phương đã nói với đồng đội rằng: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống Quân chủng Hải quân Việt Nam Anh hùng".
Cùng thời điểm đó, tàu chiến của đối phương bắn đạn pháo dồn dập khiến tàu HQ-604 thủng vỏ, chìm dần xuống biển. Trước khi hy sinh, Đại úy, thuyền trưởng Vũ Phi Trừ; Trung tá Trần Đức Thông - Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 đã chỉ huy cán bộ - chiến sĩ (CBCS) chuyển hướng bám xuồng, dũng cảm đánh trả, bảo vệ chủ quyền đảo Len Đao.
Thiếu tá Vũ Huy Lễ chỉ huy tàu HQ-505 tăng tốc lao nhanh lên bãi cát đảo Cô Lin, tạo thành "lá chắn sống" chặn hướng tấn công của đối phương để bảo vệ chủ quyền. Trong trận hải chiến không cân sức đó, 64 CBCS hy sinh, 9 người bị phía Trung Quốc bắt giữ đưa về Quảng Đông 3 năm mới trao trả.
Trong năm 1989, Chủ tịch nước đã phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang đối với tập thể tàu HQ-505 cùng Trung tá Trần Đức Thông, Đại úy Vũ Phi Trừ, Thiếu tá Vũ Huy Lễ, Thiếu úy Trần Văn Phương và Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh.
Sau giây phút trầm tư suy tưởng, Trung úy Thủy nhớ lại: "Hồi còn bé, nhìn mấy đứa bạn được cha mẹ dắt ra bãi cát dạo chơi, nhiều lần tôi hỏi mẹ: "Mẹ ơi, ba con đâu rồi?". Lần nào tôi cũng thấy đôi mắt mẹ ngấn lệ, giọng nghẹn ngào nói: "Ba con đang bận công tác ở ngoài đảo xa, rất xa…".
Đến năm 1992, khi tôi lên 4 tuổi, hài cốt của ba được đồng đội đưa về cải táng ở Nghĩa trang liệt sĩ Quảng Phúc. Lúc đó nghe mẹ nói: "Ba đã về với mẹ con mình", tôi cứ ngơ ngác nhìn những đồng đội của ba.
Đến khi nhìn thấy mẹ và bà nội đưa bàn tay lên tiểu quách bên chiếc bát sứ có nhiều nén hương đỏ rực tỏa khói lãng đãng, nước mắt thấm đẫm trên gương mặt hao gầy, tôi mới nhận thức được rằng ba đã mất, người trong di ảnh đen trắng là ba.
Những ngày sau đó, chiều nào mẹ cũng dắt tôi ra nghĩa trang liệt sĩ viếng ba, nhiều lần tôi hồn nhiên ngắt những bông hoa đặt trước tấm bia có di ảnh của ba rồi xoay sang hỏi mẹ: "Con giống hệt ba phải không mẹ?".
Nhìn mẹ gật đầu nhưng đôi mắt ngấn lệ, tôi nói: "Lớn lên con sẽ vào bộ đội hải quân như ba". Mẹ bước tới ôm tôi trong vòng tay ấm áp yêu thương khiến cho ước mơ trở thành chiến sĩ hải quân thắp sáng trong tâm trí của tôi từ đó".


