Thái Nguyên trong dòng chảy lịch sử đất nước (Bài 5): Tể tướng Lưu Nhân Chú - chí như tùng bách, chất người như ngọc
Thái Nguyên trong dòng chảy lịch sử đất nước (Bài 5): Tể tướng Lưu Nhân Chú - chí như tùng bách, chất người như ngọc
“Lưu Nhân Chú - tài năng như cây tùng, cây bách; chất người như ngọc, ngọc dư...” - Đó là câu ban của vua Lê Thái Tổ trong bài Văn chế dành cho Lưu Nhân Chú, người xã Thuận Thượng, nay là xã Văn Yên, huyện Đại Từ, đã tham gia Hội thề Lũng Nhai, đi cùng Bình Định Vương Lê Lợi suốt cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lại có mặt trong Hội thề Đông Quan chấp nhận sự đầu hàng của quân nhà Minh; được phong chức Tể tướng…
Lưu Nhân Chú sinh cuối thế kỷ XIV, mất năm 1433. Cha ông là Lưu Trung, một thương gia giầu có, giỏi võ, trọng văn. Lưu Nhân Chú có một người em rể tên Phạm Cuống. Một người anh cùng mẹ, cũng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn rồi làm quan nhà Lê là Trịnh Khắc Phục. Theo sách “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn thì Lưu Nhân Chú thời trẻ làm nghề buôn bán.
Năm 1416, ông cùng cha, em rể và các hào kiệt vào Lam Sơn tham dự Hội thề Lũng Nhai cùng với Lê Lợi. Những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn, ông theo Lê Lợi chiến đấu ở vùng núi Chí Linh “Xông pha tên đạn, ra vào trận mạc đem hết sức ra giúp” (theo Đại Việt thông sử). Năm 1424, để phá thế bao vây của quân Minh, phát triển cuộc khởi nghĩa, theo kế sách của Nguyễn Chích, Lê Lợi chuyển hướng địa bàn chiến lược vào Nghệ An… Quân địch bại trận phải rút về thành Nghệ An cố thủ.
Lưu Nhân Chú là một trong các tướng cầm quân, chiến đấu rất tài trí và dũng mãnh; “Ông xông lên trước hãm trận, thu được toàn thắng, nổi tiếng một thời” (Đại Việt thông sử)... Năm 1425, Lê Lợi phái các tướng: Lý Triện, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị đem 2.000 quân tinh nhuệ và 3 voi chiến tiếp ứng cho Đinh Lễ, cùng đánh úp thành Tây Đô. Tháng 9-1426, Lê Lợi quyết định đưa 3 đạo quân tiến ra Bắc theo 3 hướng. Đạo quân thứ 2 do Lưu Nhân Chú, Bùi Bị chỉ huy, tiến ra vùng Thiên Trường, Tân Hưng, Kiến Xương…
Tháng 3-1427, Lưu Nhân Chú được phong chức Hành quân đô đốc tổng quản, Nhập nội đại tư mã, lĩnh 4 vệ Tiền, Hậu, Tả, Hữu, kiêm coi việc quân Tân vệ. Tháng 6 năm đó, Lê Lợi phong cho ông chức Tư không và dặn rằng: "Chức tước đã cao thì sớm hôm phải chăm chỉ, không nên trễ nải, biếng nhác, khiến uổng phí cả công lao". Nói rồi, ban cho ông một cái tán (theo Đại Việt thông sử).



