Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

Đoạn văn kể lại quá trình chiến đấu của Sư đoàn 3 Sao Vàng trong giai đoạn cuối của Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Sau thắng lợi ở Tây Nguyên, quân ta truy kích địch dọc miền Trung, giải phóng Phan Rang, phá vỡ tuyến phòng thủ quan trọng của quân đội Nguyễn Văn Thiệu và bắt nhiều sĩ quan cao cấp của địch. Tiếp đó, sư đoàn tiếp tục tiến công xuống Bà Rịa và Vũng Tàu, vượt qua các tuyến phòng thủ như cầu Cỏ May, đánh bại sự chống cự cuối cùng của địch. Đến sáng 30-4-1975, quân ta hoàn toàn làm chủ

Lai Châu16/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc chiến tranh nào dù sớm hay muộn cũng có ngày kết thúc. Thế hệ chúng tôi vinh dự được tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đầu năm 1975, ta mở chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, những thất bại liên tiếp trên các chiến trường gây tâm lý hoang mang, hoảng loạn đối với địch. Diễn biến trên chiến trường Tây Nguyên làm cho chính quyền trung ương của Nguyễn Văn Thiệu thêm lúng túng. Cuộc tháo chạy chiến lược của địch khỏi Tây Nguyên sau khi bị mất Buôn Ma Thuột, đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống phòng thủ của địch trên toàn chiến trường miền Nam nói chung, các tỉnh duyên hải miền Trung nói riêng.

Khí thế tiến công của quân ta mạnh như chẻ tre. Anh em lính vận tải, mang đạn từ phía sau ra phía trước, khiêng cáng thương binh dọc đường cũng bắt sống được tù binh. Dọc đường địch bỏ lại xe, pháo, mũ mão, giày dép, áo quần, súng đạn ngổn ngang.

Trước đây không lâu, bộ đội chúng tôi còn đi thu nhặt từng khẩu súng, từng quả lựu đạn để tính thành tích thu chiến lợi phẩm. Nay thì thu không xuể, mà toàn là những trang bị vũ khí, phương tiện tối tân, hiện đại như xe tăng, thiết giáp, pháo hạng nặng... Địch vừa tháo chạy vừa ngăn chặn ta từng bước. Ngăn chặn để tháo chạy, đó là sức chiến đấu của kẻ chiến bại, một đội quân khi đã vỡ thế trận, đã mất hết tinh thần thì sức kháng cự còn được bao nhiêu trước sự tiến công như vũ bão của quân ta?

Dọc đường tiến quân, truy kích địch, chúng tôi tổ chức lực lượng dập tắt các ổ đề kháng của chúng để tiến về phía trước. Phía sau giao cho lực lượng tại chỗ và cơ quan hậu cần, kỹ thuật, thu dọn chiến trường. Hai trung đoàn bộ binh số 2 và 12 phối hợp tiến công dọc theo trục đường quốc lộ số 19 xuống Diêu Trì, Quy Nhơn và căn cứ huấn luyện An Sơn của sư đoàn 22 địch.

Cuối tháng 3 năm 1975, sau khi trung đoàn bộ binh 12 hoàn thành nhiệm vụ trên đường 19, tôi được điều động sang trung đoàn bộ binh 2, vẫn cương vị là phó trung đoàn trưởng. Chỉ huy trung đoàn 2 lúc này là đồng chí Đoàn Mai Ngữ, quyền trung đoàn trưởng, thay đồng chí Vũ Quang Trắc đi công tác. Chỉnh ủy trung đoàn là đồng chí Nguyễn Văn Chước, Phó chính ủy là anh Lê Văn Quýt.

Địa bàn chiến lược Tây Nguyên bị mất, trục đường quốc lộ số 1 từ Trị Thiên Huế đến tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa bị cắt nhiều khúc. Các mục tiêu địch ở các thành phố, thị xã bị đánh chiếm, bị cô lập. Tại chiến trường Nam Bình Định, ta đã làm chủ hoàn toàn các huyện Vĩnh Thạnh, Bình Khê, Vân Canh, Tuy Phước... Và chiếm lĩnh tuyến An Sơn - Diêu Trì - Phú Tài - Quy Nhơn.

Toàn bộ sư đoàn 3 tiếp tục tiến công, truy kích địch vào phía nam.

Trên đường tiến quân, các đơn vị ta, lúc thì cơ động trên trục đường quốc lộ số 1, khi thì băng rừng, đón đầu địch, vượt lên phía trước để nâng cao tốc độ tiến công. Đến thị trấn Ninh Hòa, thuộc tỉnh Khánh Hòa, nơi ngã ba đường quốc lộ số 1 và 21, chúng tôi vừa dừng lại củng cố đội hình, thì được lệnh tiến công tiếp.

Khi đội hình chiến dịch đến huyện Du Long tỉnh Ninh Thuận, địch đã thiết lập tại đây tuyến ngăn chặn phía Bắc thị xã Phan Rang, sân bay Thành Sơn.

Thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn thuộc tỉnh Ninh Thuận. Phía Bắc và Tây Bắc là huyện lỵ Du Long và ấp Bà Râu, địch đã thiết lập tuyến phòng thủ hình vòng cung để bảo vệ Phan Rang, sân bay Thành Sơn - phía Đông có cảng biển Ninh Chữ. Khi nguy cơ bị tiêu diệt, địch có thể tháo chạy ra hướng biển. Trong thời điểm hiện tại, địch ở Phan Rang có liên đoàn biệt động số 6, lữ đoàn dù số 3, sư đoàn không quân số 6, trung đoàn 22 mới được khôi phục lại và lực lượng địa phương quân.

Sư đoàn bộ binh 3 Quân khu 5 được tiền phương Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ tiến công giải phóng thị xã Phan Rang trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp. Sư đoàn được tăng cường trung đoàn bộ binh 25, Tây Nguyên. Trong quá trình tiến công, sư đoàn được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp của quân đoàn 2 để nâng cao tốc độ tiến công. Như vậy đánh vào thị xã Phan Rang có tất cả 4 trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo binh hỗn hợp (gồm pháo 85, 105, 155 mm) 36 khẩu, cối 120mm, 16 khẩu, ĐKZ 75mm 16 khẩu và một tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm 12 khẩu.

Sư đoàn tổ chức 3 mũi. Mũi thứ nhất tiến công đánh chiếm ấp Bà Râu từ hướng tây và tây bắc sau đó tiến ra đường số 1 và đường sắt. Đây được xác định là hướng chủ yếu, không đột phá chính diện theo trục đường số 1, mà từ căn cứ Bác Ái tiến công vào ấp Bà Râu, bên sườn trái hệ thống phòng thủ của địch ở Phan Rang. Mũi này do trung đoàn bộ binh số 2 đảm nhiệm. Mũi thứ hai tiến công tiêu diệt quận lỵ Du Long, do trung đoàn bộ binh 12 đảm nhiệm. Mũi thứ ba tiến công vào sân bay Thành Sơn do trung đoàn bộ binh 25 được tăng cường tiểu đoàn pháo 85 và tiểu đoàn pháo cao xạ 37 mm đảm nhiệm. Trung đoàn bộ binh 141 làm nhiệm vụ thọc sâu vào núi Quýt - cảng Ninh Chữ, chặn đường rút lui của địch ra biển. Phối hợp với các mũi tiến công lên thị xã Phan Rang.

Trải qua chặng đường dài, hành quân truy kích địch từ Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, đêm 13 tháng 4 năm 1975, đội hình sư đoàn 3 đã vào đến tuyến tiếp giáp với địch phía Bắc thị xã Phan Rang. Sở chỉ huy trung đoàn 2 chúng tôi đã triển khai trên sườn núi đá phía tây - bắc ấp Bà Râu. Đứng ở đây, ta có thể thấy rõ được rìa ấp phía Bắc, nơi đối diện với đội hình tiến công của quân ta. Những ánh chớp, kèm theo tiếng nổ xuất hiệu liên tục trên các hướng. Địch kéo pháo ra đặt trên đường số 1, bắn như điên, như dại dọc đường và những nơi chúng nghi có quân ta tiếp cận.

5 giờ sáng ngày 14-4, lực lượng của trung đoàn bộ binh 2 đã áp sát ấp Bà Râu. Pháo binh ta đang chế áp mãnh liệt vào thị xã Phan Rang, sân bay Thành Sơn. Lúc này, sở chỉ huy trung đoàn có anh Đoàn Mai Ngữ, trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Chước, chính ủy, anh Lê Văn Quýt, phó chính ủy và tôi. Chúng tôi hội ý chớp nhoáng và phân công nhau đi xuống các mũi, các hướng.

Lúc 9 giờ 30 ngày 14-4-1975, trung đoàn 2 nổ súng tiến công ấp Bà Râu. Tôi theo một mũi tiến công từ phía tây vào ấp. Vừa từ ngoài đồng ruộng khô bước vào bờ hào rìa ấp đã thấy xác hai tên lính mặc quần áo rằn ri, nằm đè lên nhau, vắt qua bờ ấp, bên cạnh một hố đất cháy xám. Có thể mấy tên địch chết do một quả B40 của bộ đội ta khi tiến công vào ấp. Trung đoàn bộ binh 2 làm chủ hoàn toàn ấp Bà Râu, tiến ra đường quốc lộ số 1 và đường tàu hỏa. Súng nổ dữ dội, khắp nơi. Cuộc chiến đấu quyết liệt với địch từ quận lỵ Du Long dọc theo đường số 1, trên các điểm cao phía đông đường của các lực lượng sư đoàn 3 kéo dài đến tối.

Tuyến phòng thủ của địch Du Long - ấp Bà Râu - Thành Sơn, cơ bản bị đập tan. Để nâng cao tốc độ tiến công ngày 15 tháng 4, Bộ tăng cường cho sư đoàn một tiểu đoàn xe tăng của quân đoàn 2.

Cánh cửa phía bắc đã mở, quân ta tiến công như vũ bão vào thị xã Phan Rang - sân bay Thành Sơn. Ngày 16-4-1975 tỉnh Ninh Thuận được hoàn toàn giải phóng. Toàn bộ lực lượng địch ở đây bị quân ta tiêu diệt, bắt sống, tan rã. Ta thu toàn bộ máy bay, trên 30 chiếc tại sân bay Thành Sơn, hàng chục khẩu pháo các loại và các phương tiện chiến tranh khác của địch.

Phải nói rằng: Địch chọn tuyến ấp Bà Râu - Du Long làm lá chắn trong hệ thống phòng thủ Phan Rang - Tháp Chàm là rất lợi hại. Trên hướng chính diện, chúng dựa vào chi khu quận lỵ Du Long, dọc phía đông quốc lộ số 1 vào Phan Rang có dãy cao điểm khống chế. Địch hoàn toàn chiếm địa hình có lợi tại khu vực này. Phía tây, liên hoàn với ấp Bà Râu, xung quanh đối diện với đội hình tiến công của ta là cánh đồng trống, tiếp đến là tuyến chiến hào rìa ấp. Chính vì thế mà đã gây không ít khó khăn cho ta trong quá trình đột phá tiến công.

Sư đoàn bộ binh 3, sau khi cùng với các lực lượng của chiến dịch, tiến công giải phóng thị xã Phan Rang, được giao nhiệm vụ quân quản, tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng, ổn định trật tự, lùng sục tàn binh địch và thu dọn chiến trường - một nhiệm vụ khá phức tạp trong tình hình lúc đó.

Được nhân dân báo tin: ở vườn chuối, dọc con mương nước phía tây, thị xã Phan Rang có một toán địch đang lẩn trốn. Chúng tôi phái ngay một đại đội thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 đến bao vây, lùng sục. Quả nhiên, sau một hồi tìm kiếm, một tổ ba đồng chí, gồm Loan, Mưu, Quân, do đồng chí Loan làm tổ trưởng, bắt gọn Bộ chỉ huy tiền phương quân khu Ba của địch tại khu vực Bửu Sơn; trong đó có thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh vùng 3 chiến thuật, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, tư lệnh sư đoàn không quân số 6, một đại tá cố vấn quân sự Mỹ và hàng chục sĩ quan cấp tá khác1.

Ngay lập tức, tin trung đoàn 2 bắt được tướng ngụy và cố vấn Mỹ được báo cáo lên Bộ tư lệnh chiến dịch.

Chúng tôi đưa bộ ba tướng, tá này vào một ngôi nhà bỏ trống tại thị xã Phan Rang. Cùng lúc, trên bầu trời chiếc máy bay trinh sát (L19) quần lượn nhiều vòng, có lẽ chúng đang cố gắng tìm hai tên tướng ngụy và cố vấn Mỹ để giải thoát. Nhưng vô vọng. Các loại súng phòng không của ta bắn lên. Chiếc máy bay bay vút lên cao rồi chuồn thẳng vào phía nam.

Ba tên sĩ quan cao cấp bị bắt thuộc Bộ tư lệnh quân đoàn Ba của quân đội Sài Gòn vừa được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phái ra lập tuyến phòng thủ ở Phan Rang để bảo vệ Sài Gòn từ xa. Chúng tôi đang khai thác hai tên tướng ngụy để phục vụ cho chiến đấu trước mắt, thì nhận được điện của Bộ tư lệnh sư đoàn, đưa ngay tù binh về Bộ tư lệnh chiến dịch.

Trong tình hình hiện nay, việc bắt gọn được tên cố vấn Mỹ và cả bộ tư lệnh phòng thủ của địch trên hướng tiến công chủ yếu vào mục tiêu chiến lược cuối cùng là Sài Gòn - Gia Định, là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong ý đồ tiếp theo của quân ta.

Sự việc diễn ra bất ngờ, đến nỗi khi chúng tôi báo cáo lên cấp trên, Bộ tư lệnh và cơ quan chiến dịch chưa tin, chỉ thị xuống cho sư đoàn thẩm tra lại. Khi đã được khẳng định tin này, từ Bộ tư lệnh sư đoàn đến Bộ tư lệnh và cơ quan tiền phương Bộ tổng tham mưu đều vui mừng và xúc động không sao tả hết.

Ngay lập tức, tin sư đoàn 3 bắt được cố vấn Mỹ và Bộ chỉ huy phòng thủ của địch tại Phan Rang - được báo cáo lên Tổng tư lệnh - Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng thời tư lệnh chiến dịch Lê Trọng Tấn chỉ thị cho sư đoàn 3:

* Canh giữ tù binh chặt chẽ, không để chúng trốn thoát.

* Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách đối với tù binh, cho ăn uống tử tế, động viên chúng an tâm.

* Tổ chức lực lượng tin cậy, áp giải ra Bộ.

Đêm hôm đó (16/4) sư đoàn 3 nhận được điện khẩn của Bộ Tổng tham mưu với nội dung phải đưa và hộ tống những tù binh sau đây ra Hà Nôi:

1, Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.

2, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang.

3, Đại tá cố vấn Mỹ

4, Đại tá Lã Xuân Thu (Lữ trưởng lữ dù số 3)

Bộ sẽ thông báo và ra lệnh cho các đơn vị đang hành quân trên đường số 1 giúp đỡ và tạo điều kiện cho sư đoàn 3 đưa tù binh ra Hà Nội an toàn và nhanh nhất.

Sau đó, Đại tướng tổng tư lệnh cũng gửi điện khẩn cho sư đoàn và dặn thêm: “Cầm bức điện này để tiện giao dịch trên đường”.

Sư đoàn đã tổ chức 2 chiếc xe và 12 đồng chí trinh sát, cảnh vệ được lựa chọn kỹ, do đồng chí Võ Khắc Vẽ, trưởng ban trinh sát sư đoàn trực tiếp chỉ huy, đi ra Hà Nội an toàn, theo đúng kế hoạch.

Ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu với quyết tâm là “Thần tốc, táo bạo, giải phóng Sài Gòn trong thời gian ngắn nhất - trước mùa mưa”.

Đúng với tư tưởng chỉ đạo là “Thần tốc”, trên đường hành tiến, chúng tôi gặp bất cứ phương tiện gì thì sử dụng ngay phương tiện đó để tiến lên phía trước, chạy đua với thời gian. Các loại xe của nhân dân đều được trưng dụng để chuyển quân. Nhân dân lúc ấy sẵn sàng giúp đỡ bộ đội. Chúng tôi chỉ cần ghi cho họ mấy dòng chữ: “Người này đã giúp đỡ quân giải phóng trên đường tiến công địch”. Họ rất vui mừng và tự hào, vì được giúp đỡ cách mạng. Quân ta tiến công như vũ bão trên khắp các mặt trận hướng về Sài Gòn.

Phòng tuyến Phan Rang bị thất thủ, địch dồn mọi lực lượng lùi về cố thủ tại Xuân Lộc - Đồng Nai và thị xã Bà Rịa. Trong khi đó, trên các hướng, quân ta đang nỗ lực tiến về Sài Gòn. Lực lượng của địch căng ra, lo đối phó, không chi viện được cho nhau.

Sư đoàn bộ binh số 3, thuộc Quân khu 5 trong cánh quân duyên hải tiến công giải phóng thị xã Phan Rang. Từ đây sư đoàn nằm trong đội hình Quân đoàn 2, đảm nhiệm tiến công địch trên hướng đông nam Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Khi đội hình sư đoàn 3 tập kết tại Rừng Lá, quân đoàn 4 đã làm chủ khu vực Trảng Bom, theo quốc lộ 20 tiến công đánh chiếm ngã ba Dầu Dây. Sân bay Biên Hòa bị chế áp. Phòng tuyến bảo vệ Sài Gòn trên hướng Bắc, dọc quốc lộ 1 mà địch tập trung mọi cố gắng thiết lập tại Xuân Lộc đã bị chia cắt bởi 2 cánh quân ta: Phía đông nam là quân đoàn 2, phía tây là quân đoàn 4 và có nguy cơ bị bao vây từ hướng Bà Rịa, Xuyên Mộc. Sư đoàn 18 và các lực lượng địch tại Xuân Lộc vô cùng hoang mang, tuyệt vọng. Chúng dồn mọi khả năng trong bước đường cùng hòng ngăn chặn bước tiến công của quân ta, tạo cơ hội cho Sài Gòn di tản. Vì vậy cuộc chiến đấu ở đây vẫn không kém phần quyết liệt.

Những ngày này, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, cực Nam Trung bộ và Nam bộ vô cùng sôi động.

Không chịu nổi trước sức mạnh tiến công của quân ta, ngày 21 tháng 4, sư đoàn 18, lữ đoàn Ky binh thiết giáp, 1 liên đoàn biệt động và các lực lượng khác của địch tháo chạy khỏi Xuân Lộc. Tỉnh Long Khánh được hoàn toàn giải phóng.

Đội hình Quân đoàn 2 trong chiến dịch Hồ Chí Minh hướng đông nam Sài Gòn gồm có: Sư đoàn bộ binh 304, 325, 3, lữ đoàn pháo binh, lữ đoàn pháo cao xạ, lữ đoàn xe tăng.

Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Hữu An và chính ủy Lê Linh giao nhiệm vụ cho sư đoàn 3 như sau:

“Sư đoàn 3 được tăng cường một đại đội xe tăng T54 (5 chiếc); một đại đội pháo 130 mm (4 khẩu); một đại đội pháo phòng không 100mm (4 khẩu) có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch ở tỉnh Phước Tuy (nay là Bà Rịa) và thành phố Vũng Tàu. Sau đó sẵn sàng ra giải phóng một số đảo như Cần Giờ, Côn Sơn, khi có lệnh. Hiệp đồng chặt chẽ với sư đoàn bộ binh 325 quân đoàn 2 bên cánh phải ở Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ...”

Quyết tâm của đảng ủy và bộ tư lệnh sư đoàn 3 được xác định như sau: Tập trung mọi lực lượng của sư đoàn và lực lượng tăng cường, trước mắt tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, giải phóng tỉnh Phước Tuy. Mục tiêu chủ yếu là dinh tỉnh trưởng, trường hạ sĩ quan Vạn Kiếp, nhanh chóng chiếm giữ cầu Cỏ May, tạo thế để tiến công tiếp xuống thành phố Vũng Tàu.

Nhiệm vụ tiếp theo là tiến công giải phóng Vũng Tàu.


Nhiệm vụ của các đơn vị:

* Trung đoàn bộ binh 141, được tăng cường đại đội xe tăng, được cụm pháo binh sư đoàn chi viện, tiến công trên hướng chủ yếu của sư đoàn, tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở thị xã Bà Rịa, nhanh chóng phát triển chiếm cầu Cỏ May. Mục tiêu chủ yếu là dinh tỉnh trưởng. Sau đó làm lực lượng dự bị, sẵn sàng bước vào chiến đấu, giải phóng thành phố Vũng Tàu.

* Trung đoàn bộ binh 12 được chi viện hỏa lực của cụm pháo binh sư đoàn, tiến công tiêu diệt chi khu quận lỵ Đức Long, huyện Đất Đỏ, phát triển đánh chiếm chi khu quận lỵ Long Điền, khu căn cứ của sư đoàn 18 địch ở Phước Tỉnh. Sau đó cơ động đánh chiếm thành phố Vũng Tàu bên cánh trái của sư đoàn.

* Trung đoàn bộ binh số 2, giai đoạn trước mắt làm lực lượng dự bị của sư đoàn, giai đoạn tiếp sau làm lực lượng chủ yếu, tiến công theo trục đường số 51, giải phóng thành phố Vũng Tàu.

Ngày 28 tháng 4, lực lượng quân đoàn 3 Sài Gòn cùng với các lữ đoàn xe tăng thiết giáp, các lữ đoàn thủy quân lục chiến lùi về thiết lập tuyến ngăn chặn Hố Nai - Biên Hòa - Long Bình, trực tiếp bảo vệ Sài Gòn từ hướng đông và đông bắc.

Ngày 29 tháng 4, trên các hướng khác, các binh đoàn chủ lực của ta cùng đồng loạt tiến công, hình thành thế bao vây và tiến dần đến mục tiêu cuối cùng là Sài Gòn - Gia Định. Hướng bắc, Quân đoàn 1 đã tiến đến sông Bé, vượt qua các tuyến phòng thủ của địch, áp sát đến Lái Thiêu. Hướng tây bắc, Quân đoàn 3 đánh chiến căn cứ Đồng Dù, trường huấn luyện Quang Trung (Hóc Môn). Hướng tây nam, đoàn 232 cũng đã giải phóng thị xã Hậu Nghĩa và tiến đến vùng ven thành phố1.

Trên hướng Bắc - Đông Bắc Sài Gòn, Quân đoàn 4 đã phá vỡ được tuyến ngăn chặn Hố Nai - Long Bình, chế áp mãnh liệt sân bay Biên Hòa. Trên hướng của Quân đoàn 2, quân ta tập trung mọi cố gắng tiến công vào căn cứ Nước Trong, trường huấn luyện thiết giáp. Ở đây địch chống cự quyết liệt. Một cánh quân tiến công đánh chiếm thị trấn Long Thành, mở đường thọc xuống Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, Cát Lái.

Tại thị xã Bà Rịa, tàn quân của sư đoàn 18 Sài Gòn, lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp 3 từ Xuân Lộc rút về, cùng với lính dù, lính thủy quân lục chiến, tập trung tại căn cứ huấn luyện Vạn Kiếp chống trả quyết liệt. Trung đoàn 141 được tăng cường 5 chiếc xe tăng cùng trung đoàn bộ binh 12, phải đột phá liên tục vào thị xã Bà Rịa. Hai xe tăng của ta đã bị bắn cháy, bắn hỏng ngay trước cửa ngõ chính từ hướng bắc vào thị xã. Khoảng 19 - 20 giờ ngày 27-4-1975, tôi đi qua đây thấy một số đồng chí của ta hy sinh bên cạnh những chiếc xe tăng bị bắn cháy, chưa được chuyển đi. Thật xót xa, trước thắng lợi hoàn toàn gần kề, chiến sĩ ta vẫn còn phải ngã xuống...

Trước sức tiến công mãnh liệt của 2 trung đoàn bộ binh 12 và 141 thuộc sư đoàn 3, đến 21 giờ, sư đoàn 3 đã làm chủ thị xã Bà Rịa, căn cứ Vạn Kiếp. Sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn 141, trận địa pháo và xe tăng triển khai tại thị xã Bà Rịa. Hai trung đoàn 2 và 12 nống ra hướng đông nam thị xã. Trung đoàn bộ binh 12 nống ra hướng biển Long Hải, trung đoàn 2 tiến đến đầu đường số 51 Bà Rịa đi Vũng Tàu. Toàn bộ địch còn lại tại thị xã Bà Rịa tháo chạy xuống Vũng Tàu. Chúng đã đánh sập cầu Cỏ May và thiết lập tại đây một ổ đề kháng tại mố cầu phía nam, hòng làm chậm bước tiến của quân ta.

Nhiệm vụ của sư đoàn 3 lúc này là nhanh chóng đánh chiếm thành phố Vũng Tàu, vu hồi, chặn địch từ Sài Gòn tháo chạy theo đường biển. Do đó, tiến công đánh chiếm Vũng Tàu càng sớm càng tốt. Nhưng tại cầu Cỏ May, địch dựa vào sông Cỏ May chống trả quyết liệt.

Trong quá trình tiến công đánh chiếm thị xã Bà Rịa, trung đoàn bộ binh 141 báo cáo: “Đã đánh chiếm được cầu Cỏ May!”. Nhưng không phải. Đó là chiếc cầu nhỏ, trước cầu Cỏ May. Còn cầu Cỏ May đã bị địch phá sập trước khi rút chạy khỏi thị xã Bà Rịa.

Phía bên kia cầu (hướng Vũng Tàu) địch có khoảng một tiểu đoàn và hàng chục xe tăng - xe thiết giáp. Chúng xếp thùng khuy, đổ đầy cát, dựa vào sông Cỏ May làm thành trận địa phòng ngự mạnh, chống trả quyết liệt.

Ngày 28 - 4, tiểu đoàn 3, do tiểu đoàn trưởng Lê Đình Như và chính trị viên Nguyễn Văn Hùng, tổ chức tiến công nhiều lần, không thành công. Ta thương vong cao. Khu vực này, địa hình trống trải, đường độc đạo, hai bên sình lầy. Khi thủy triều lên, nước mênh mông; khi thủy triều xuống, lầy lội. Địa hình chật hẹp, không có chỗ để triển khai binh hỏa lực. Tiểu đoàn phải dừng lại.

Lúc này theo kế hoạch ban đầu, tập trung lực lượng tiến theo đường 51 xuống Vũng Tàu sẽ bị chậm trễ. Trước tình hình đó, thường vụ đảng ủy sư đoàn họp. Sau khi phân tích tình hình, nhất trí thay đổi quyết tâm ban đầu: Chuyển hướng tiến công chủ yếu sang hướng trung đoàn bộ binh 12 dọc theo bờ biển, phía đông đường 51. Tuy khó khăn, phức tạp, nhưng hoàn toàn chính xác. Việc cần phải triển khai gấp là cơ động cụm pháo binh sư đoàn (thiếu) gồm: một tiểu đoàn lựu pháo 155mm, một tiểu đoàn pháo 130 mm, một tiểu đoàn (thiếu) pháo chống tăng 85 mm và tiểu đoàn (thiếu) pháo cao xạ 37 mm xuống hướng trung đoàn bộ binh 12 ở khu vực Phước Tĩnh.

Tư lệnh sư đoàn, đồng chí Trần Bá Khuê bổ sung nhiệm vụ cho các đơn vị qua điện thoại, trước hết là trung đoàn 12:

* Trung đoàn bộ binh 12, do đồng chí Đới Ngọc Cầu, trung đoàn trưởng chỉ huy, từ đông nam thị xã Bà Rịa, vượt qua cửa biển Long Hải, tiến theo bờ biển xuống chiếm bãi Thùy Dương, phát triển đến ngọn Hải Đăng, chặn địch tháo chạy ra biển, vu hồi vào trung tâm thành phố.

* Trung đoàn bộ binh số 2 nhạnh chóng khắc phục để vượt qua cầu Cỏ May, tiến công đánh chiếm Núi Lớn, khu vô tuyến viễn thông, phát triển xuống Bãi Trước, làm chủ dọc đường ven biển đến tòa Bạch Dinh, khách sạn Palas.

* Trung đoàn bộ binh 141 dùng một tiểu đoàn đánh chiếm núi Nưa, trung đoàn thiếu một tiểu đoàn làm lực lượng dự bị.

Đồng chí Phó tư lệnh tham mưu trưởng sư đoàn Nguyễn Duy Thương cùng với chủ nhiệm pháo binh và một số cán bộ cơ quan sư đoàn xuống trực tiếp chỉ huy, và chỉ đạo giúp đỡ trung đoàn bộ binh 12 vượt qua cửa biển Long Hải (Phước Tĩnh). Các anh hạ quyết tâm vượt qua cửa biển bằng hai phương pháp:

* Một, bằng bí mật.

* Hai, nếu bị lộ, địch ngăn chặn thì dùng sức mạnh hỏa lực để vượt qua.

Tình hình ở phía bên kia (hướng Vũng Tàu) chủ yếu chúng ngăn chặn ta tiến công theo trục đường 51. Hướng bờ biển có nhiều sơ hở và nhất là chúng đang trong thời kỳ tan vỡ, tinh thần dao động mạnh.

Trung đoàn bộ binh 12 đã huy động trong nhân dân được 40 chiếc thuyền, mỗi chiếc chở được hơn một trung đội bộ binh, có cả hỏa lực đi cùng. Nhân dân ở đây rất nhiệt tình giúp đỡ, nếu không trung đoàn bộ binh 12 không thể nào vượt qua được một cửa biển rộng gần 1 km. Điều đó, nói nên rằng, không những nhân dân các tỉnh Liên khu 5 đã nuôi nấng, giúp đỡ sư đoàn 3 gần 10 năm chiến đấu trong những năm ngặt nghèo nhất, mà đồng bào ở dưới vùng kiểm soát của chế độ Mỹ - Ngụy từ bao năm nay cũng náo nức, vui mừng khi được góp sức cùng với quân giải phóng trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh.

Đêm 28-4, trung đoàn bộ binh 12, do trung đoàn trưởng Đới Ngọc Cầu và chính ủy Trần Hữu Biền chỉ huy, đã vượt qua eo biển Long Hải được bí mật, an toàn, tiến vào nội ô thành phố Vũng Tàu. Tiểu đoàn 6 được tăng cường 2 khẩu ĐKZ82, tiến công quặt ra hướng đường 51, sau cầu Cỏ May, bắn cháy 2 xe thiết giáp M113 của địch, làm chủ ấp Thắng Nhất, Thắng Nhì, tạo điều kiện cho trung đoàn bộ binh 2 tiến công cụm quân địch ở cầu Cỏ May.

Trên hướng tiến công của trung đoàn bộ binh 2, lúc 21 giờ 30 ngày 28-4. Sở chỉ huy trung đoàn đặt trên sân thượng của tòa nhà ba tầng, ngay ngã ba đầu đường số 51 rẽ xuống Vũng Tàu. Đứng ở đây, ban ngày có thể nhìn thấy toàn cảnh phía đông nam thị xã Bà Rịa và trục đường 51. Nhưng bây giờ trời tối, chỉ thấy những ánh chớp kèm theo tiếng nổ của đạn pháo trên các hướng tiến công của quân ta. Xung quanh chúng tôi có mấy chiếc xe GMC, địch tháo chạy không kịp tắt máy, vẫn nổ xình xịch...

Sau khi đánh chiếm thị xã Phan Rang, trên đường tiến công vào phía Nam, đồng chí Đoàn Mai Ngữ bị tai nạn, phải đi viện. Tại sở chỉ huy lúc này có anh Nguyễn Văn Chước chính ủy, anh Lê Văn Quýt và anh Lưu Quang Đông, phó chính ủy và tôi. Anh Chước ở lại sở chỉ huy để theo dõi tình hình trên các mũi tiến công của trung đoàn, tôi trực tiếp đi xuống cầu Cỏ May. Khi chúng tôi bàn cách tổ chức cho bộ đội vượt cầu Cỏ May, anh Chước lo lắng, nhắc tôi:

- Cậu hãy thận trọng, nắm thật chắc tình hình địch bên kia cầu và cho trinh sát bí mật sang trước!

- Anh yên tâm? Có tình hình gì tôi sẽ điện về ngay! - Tôi trả lời rồi điều đồng chí chủ nhiệm công binh cùng đi xuống cầu Cỏ May. Tại cầu Cỏ May tiểu đoàn 3 đang tập trung mọi cố gắng đập tan mọi sự kháng cự của địch để vượt qua. Tôi bò vào sát mố cầu phía Bắc để quan sát.

Cầu bị đánh sập một nhịp. Nước sông sâu, chảy xiết. Bên kia cầu dưới ánh sáng lờ mờ trong đêm tối, thấp thoáng có một số tên địch đi lại, canh gác. Chúng tôi điều ngay một khẩu ĐKZ75, một khẩu cối 120mm và một khẩu súng máy 12,7 mm triển khai bên này cầu để bảo đảm cho bộ đội vượt sông. Ở đây, do địa hình hai bên đường chật hẹp, nên không thể triển khai được nhiều hơn. Suốt từ chiều đến 20 giờ ngày 28-4 tiểu đoàn trưởng Như và chính trị viên Hùng tổ chức đột phá liên tục, không vượt qua được. Địch dựa vào sông Cỏ May chống trả quyết liệt. Có nhiều đồng chí bị thương tại đây.

Trong khi một tổ trinh sát đang bí mật bơi qua sông để nắm tình hình bên kia cầu Cỏ May, đồng chí chủ nhiệm công binh trung đoàn lên phía trên, cách cầu khoảng 500 mét để tìm phương tiện vượt sông. Chúng tôi được bà con ngư dân ở đây giúp đỡ. Mờ sáng ngày 29-4 một phân đội vượt sông, đánh chiếm đầu cầu. Lúc tiểu đoàn 6 trung đoàn 12 tiến ra đường 51, phía sau cầu Cỏ May, bọn địch ở đây chống trả một cách tuyệt vọng và tháo chạy. Tranh thủ thời cơ, đội hình trung đoàn bộ binh 2 ào ạt vượt qua sông Cỏ May tiến thẳng xuống Vũng Tàu.

Sở chỉ huy trung đoàn bộ binh 2 di chuyển liên tục, bám sát đội hình để chỉ huy bộ đội, và xử trí các tình huống kịp thời. Lúc này mũi tiến công phía đông, trung đoàn bộ binh 12 đã đổ bộ vào Bãi Sau tiến vào thành phố Vũng Tàu. Chúng tôi được thông báo liên tục về tình hình diễn biến trên các hướng chiến dịch.

Sáng ngày 30 tháng 4 thắng lợi đã nắm chắc trong tầm tay. Nhưng cuộc chiến đấu vẫn diễn ra quyết liệt tại trung tâm thành phố. Trên các hướng chiến dịch, máu của chiến sĩ ta vẫn phải đổ xuống trên đường tiến quân vào Sài Gòn - Gia Định.

Rạng sáng ngày 30-4, sở chỉ huy trung đoàn bộ binh 2 đã triển khai tại căn cứ Hải quân Vũng Tàu. Các lực lượng bộ binh đã áp sát dưới chân Núi Lớn.

Trung đoàn bộ binh 12 đã tiến đến khu vực Thùy Dương và đang tiến lên Núi Nhỏ. Một mũi khoe của trung đoàn tiến công vào trung tâm thành phố. Dưới sự lãnh đạo và tổ chức của địa phương, nhân dân ở đây đã chuẩn bị từ trước, nên bộ đội ta tiến đến đâu, cờ đỏ sao vàng, cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng mọc lên tới đó. Chúng tôi như hành tiến dưới rừng cờ với bao cảm xúc sung sướng và tự hào. Thế mớí biết, mấy chục năm qua, sống dưới ách kìm kẹp của đế quốc Mỹ và tay sai, đại bộ phận nhân dân miền Nam vẫn luôn hướng về cách mạng. Các mẹ, các chị chạy ra, tiếp tế cho chúng tôi nước uống, kẹo, bánh và trái cây.

Vào lúc 09 giờ 30 phút, lực lượng đầu tiên của Trung đoàn bộ binh 2 đến khu vực ngã ba đường, dưới chân Núi Lớn. Nơi đây trông có vẻ như một trường học. Trên đỉnh Núi Lớn có đài vô tuyến viễn thông. Những chiếc “rổ sắt” khổng lồ được bao bọc bởi một lớp hàng rào bằng lưới sắt chống đạn B40 cao 2 - 3 mét trong một khu vực rộng gần chục héc ta.

Chúng tôi tiến vào khu nhà hai tầng sát chân núi thì bỗng nhiên súng từ trên sườn Núi Lớn bắn xuống, trong nhà bắn ra. Đạn bay chíu chíu trên đầu. Cùng anh em nép vào các căn nhà hai bên đường để tránh đạn, tôi ra lệnh cho cối 120 mm bắn lên sườn đồi đối diện để uy hiếp, nhưng yêu cầu không được bắn lên đỉnh đồi, nơi có đài vô tuyến viễn thông. Vì máy móc thiết bị trên đó nay như đã thuộc về ta rồi. Khi im tiếng súng, chúng tôi tiến vào sân trường. Tại đây có một nhóm học sinh khoảng 14, 15 tuổi đứng trước cổng trường. Trên sân trường có 4 - 5 khối học sinh, đội ngũ chỉnh tề, nhưng không thấy thầy, cô giáo. Khi chúng tôi hỏi: “Những loạt súng vừa rồi ở đâu bắn ra?”. Các em trả lời: “Không biết!”.

Suy nghĩ, đây chỉ là học sinh của một trường phổ thông, chúng tôi cho các em ra về, chỉ giữ lại một số người lớn tuổi.

Khi các em đã rời sân trường, chúng tôi lên kiểm tra trên các tầng lầu của căn nhà thì thấy toàn bộ các phòng đều bỏ trống, chăn, màn, quần áo vứt ngổn ngang. Tại các cửa sổ đều có bao cát, xếp thành những lô cốt, có lỗ châu mai hướng ra ngoài. Mỗi cửa đều có 1 - 2 khẩu súng AR15. Thì ra, đây là những ổ chiến đấu mà chủ nhân những khẩu súng kia chính là những học sinh lúc nãy, và có thể chính nơi đây là trường “thiếu sinh quân” của quân đội Sài Gòn.

Tôi dẫn theo một tổ ba đồng chí, trèo qua lớp hàng rào lưới sắt, lên đỉnh đồi, kiểm tra toàn bộ khu vô tuyến viễn thông. Một quả đạn cối 120 mm của ta đã bắn sập một góc nhà kho, các thiết bị trên Núi Lớn vẫn còn nguyên vẹn. Số địch đóng chốt ở đây đã chạy xuống bờ biển. Các lực lượng của Trung đoàn bộ binh 2 phối hợp từ trên Núi Lớn thọc xuống, từ phía Bắc và phía Nam tiến theo con đường dọc bờ biển tại khu vực Bãi Trước. Trên con đường này ngổn ngang xe vận tải, xe thiết giáp M113. Có nhiều chiếc đâm đầu xuống biển, có những chiếc đang nổ máy xình xịch... Một đám lính địch rất đông, đang tập trung tại đây, đủ các đơn vị: lính dù, lính xe tăng, lính vận tải, lính biệt động... Khi thị xã Bà Rịa bị thất thủ, số lính sống sót chạy về đây trong bước đường cùng, tuyệt vọng.

Trước những bãi xe ngổn ngang, làm thế nào để thu dọn và đưa về đơn vị. Tôi tập trung đám tàn quân lại một nơi, hỏi: “Ai là người biết lái xe?”. Cả bọn có vẻ sợ sệt, không dám trả lời.

- Trong tất cả các anh, ai biết lái xe? - Tôi nhắc lại lần thứ hai.

Một người trong bọn, khoảng 50 tuổi, vừa giơ tay lên, thì rất nhiều người trong toán lính này giơ tay. Sau này tôi mới được biết, tay đứng tuổi là Tiểu đoàn trưởng, còn đám tàn binh kia là lính lái xe của tiểu đoàn tiếp vận từ thị xã Bà Rịa chạy về đây. Sau khi tuyên truyền cho chúng hiểu về chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, tôi ra lệnh mỗi người lên một chiếc xe, kiểm tra lại xăng dầu và tình trạng về kỹ thuật, cho nổ máy thử và khi có lệnh, lái xe về căn cứ của quân giải phóng. Chúng nó chấp hành răm rắp. Thế là chúng tôi đưa được 22 xe vận tải về sở chỉ huy sư đoàn. Số địch còn lại, gồm nhiều sắc lính khác nhau, chúng tôi giao lại cho lực lượng phụ trách tù binh giải quyết.

Đúng 10 giờ 30 phút ngày 30-4, hai cánh quân trực tiếp tiến công giải phóng thành phố Vũng Tàu là trung đoàn bộ binh số 2 và 12 sau khi dập tắt sự kháng cự cuối cùng của một lực lượng địch ở khách sạn Palas, đã gặp nhau tại đây.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn