Lần thứ hai tôi được lệnh tổ chức trung đoàn vượt sông Sài Gòn thâm nhập địa bàn Nam lộ 8. Trước đó một ngày tôi đến kiểm tra mọi công tác chuẩn bị của tiểu đoàn 9. Tiểu đoàn có nhiệm vụ thọc sâu đứng trụ tại ấp Tân Phú Trung, một khu dân cư đông đúc trù phú nằm cạnh quốc lộ Sài Gòn - Củ Chi - Tây Ninh. Nơi đây nói theo cụm từ ta thường dùng “vùng sau lưng địch”. Bộ máy ngụy quân ngụy quyền thiết lập hoàn chỉnh. Sự kiểm soát kềm kẹp của chúng chặt c7g mũi chịu sào” chốt trụ nửa làng phía Bắc. Tiểu đoàn 7 tham gia mở màn đợt 2 chiến dịch bằng tấn công cường tập đồn Cây Me (Phú Hòa Đông) đêm hôm sau, khi tôi từ Tân Thạnh Tây về.
Cuộc chiến đấu không thành công trọn vẹn. Ta chỉ triệt hạ hơn phân nửa đồn, tiêu hao nặng một bộ phận sinh lực, không thực hiện được đánh tiêu diệt gọn. Điều này dễ hiểu vì thiếu công tác chuẩn bị, thiếu điều nghiên chu đáo. Thâm tâm tôi cho chủ trương đánh diệt đồn Cây Me một cách vội vã là sự liều lĩnh mạo hiểm vì không có và chưa tạo ra những yếu tố cần thiết đảm bảo thắng lợi. Đánh giá địch quá thấp do suy luận chủ quan. Tưởng rằng tình thế này “ho” một tiếng tinh thần địch vốn rệu rã chỉ còn nước đầu hàng. Tôi cũng hiểu trung đoàn bị sức ép bề trên buộc phải “lao vào lửa”.
Điều tôi rất đau lòng cho phân đội trinh sát tiểu đoàn 7. Anh em bị tổn thất gần phân nửa quân số. Khi tôi còn là tiểu đoàn trưởng, chúng tôi đã dày công xây dựng nó mặc dù trung đoàn phó và tham mưu trưởng kịch liệt phê phán chỉ trích tôi vì không tuân thủ đúng biên chế. Trên cho phép phân đội trinh sát tiểu đoàn chỉ được tổ chức hai tiểu đội từ 16 đến 20 đồng chí là tối đa. Nhưng qua kinh nghiệm kể cả thời đánh Tây, trinh sát chẳng những tai mắt cho ngươi chỉ huy, mà còn là tay chân dũng mãnh của một cơ thể người rất đắc dụng. Tôi tuyển chọn tổ chức có 30 tay súng thành một trung đội hoàn chỉnh. Tôi truyền thụ mọi kỹ thuật và kinh nghiệm theo cách đánh đặc công, huấn luyện mọi động tác tiềm nhập, trinh sát đeo bám địch, đánh gần, đánh đêm, đánh trong rừng rậm, thao tác sử dụng thông thạo các loại vũ khí, mìn, bộc phá v.v... Tôi xem nó là bộ phận cốt lõi ưu tú của tiểu đoàn, đội dự bị trong tất cả mọi trường hợp chiến đấu.
Nay những bạn chiến đấu với tôi, gần gũi bên tôi chỉ còn năm mươi phần trăm quân số. Sau trận, anh em gặp tôi chỉ biết nắm tay nhìn nhau ứa nước mắt.
Tiểu đoàn 7 không còn mạnh như trước sau trận cường tập đồn Cây Me không thành công trọn vẹn. Nó phải lui nhường bước cho tiểu đoàn 8 và 9 nhảy lên đứng trước.
Về nhận nhiệm vụ ở ban tham mưu trung đoàn, tôi không muốn làm cái bóng vật vờ sau lưng mấy vị, nên đề nghị cho tôi xuống theo sát hỗ trợ tiểu đoàn 8. Điều này trùng hợp ý muốn các vị, có điều người ta chưa đến lúc nói ra với tôi vì còn ngại mang tiếng “đì”.
Chỉ huy tiểu đoàn 8 đều mới đề bạt. Chính trị viên Phát vốn trưởng tiểu ban tổ chức thuộc Ban Chính trị trung đoàn. Anh cũng như tôi ghét nạn “ngồi chai đít thủng đũng quần” ở cơ quan nên xin ra tiểu đoàn chiến đấu. Hai chúng tôi khá hợp ý nhau. Khác chỗ tính tôi trầm tĩnh ít nói nhìn mọi việc bằng nụ cười mỉm. Còn anh thẳng như ruột ngựa, ai nói không phải đốp chát lại ngay. Dưới mắt năm ba người trong số lãnh đạo chỉ huy, anh thuộc loại “khó ưa” như tôi.
Trụ tại Tân Thạnh Đông nhiều chuyện gần giống như Tân Thạnh Tây. Cũng quân Mỹ “sáng triển khai tấn công vào ấp chiều tối lui ra cụm giữa đồng”. Cũng cảnh dân “sáng ra vùng địch, tối về lại ta”. Đồng bào cơm đùm cơm nắm “ráng nuôi tụi nó đánh Mỹ”... Mọi người đứng tận nơi xa miệt ngoài Hòa Phú, Bình Mỹ hay Đông Thạnh... nhìn về xóm ấp thấy đất trời rung chuyển, khói lửa mịt mùng vì cuộc chiến đấu diễn ra giữa quân ta và Mỹ. Nhiều bà má nhiều chị em bưng mặt khóc. Mong sao mau tối chạy về gặp bọn nó xem có sao không? Ôi máy bay quân ăn cướp quần đảo như bầy ong, xe tăng lổm ngổm như cua bò đầy ruộng, má lo cho các con quá. Khi gặp lại các chiến sĩ ta các má vuốt mặt vò đầu, bóp vai nắm tay, hỏi tới hỏi lui có đứa nào hề hấn gì không?Khác ở Tân Thạnh Tây, ở đây không nhộn nhịp ồn ào, không đèn măng-song khí đá, không tiếng động cơ xe lam xe máy, không quán xá cửa hiệu. Mọi hoạt động của quân ta và đồng bào âm thầm trong bóng đêm. Cơm nắm được nấu vắt từ trong các xóm ấp vùng địch kiểm soát, chị em chuyển về hết gánh này đến gánh khác chẳng một tên tề ngụy nào dám cản trở. Chúng tảng lờ để đồng bào làm, còn đồng tình khuyến khích là khác. Có tên nhắn gửi: bà con nói lại với mấy ảnh, bọn tui bị nó bắt phải ra lính. Hoàn cảnh khó khăn đành buông xuôi số phận. Chúng tôi không dám chống cách mạng, chống kháng chiến. Nhờ bà con nói lại mấy ảnh thông cảm”. Lỡ con bò con heo nào trúng đạn chết, đồng bảo bảo anh em cứ xẻ thịt mà ăn đừng ngại. Chúng tôi không nỡ. Vật nuôi của dân, quân thù bắn giết của đau con xót ai nào nuốt trôi. Thuyết phục anh em không được, đồng bào yêu cầu cán bộ địa phương can thiệp. Đồng chí bí thư chi bộ và xã đội trưởng gặp tôi bàn việc này. Chúng tôi chỉ ậm ừ. Nhưng sau nghĩ lại bỏ thì lãng phí, thôi hãy để anh em du kích giải quyết chuyện trên.
Suốt hơn 10 ngày chuyện “sáng đánh tối ngưng”, trung đoàn được lệnh rút về căn cứ phía sau vùng Bưng Cồng - Bàu Trâm chờ lệnh.
Mới 3 hôm chưa được giấc ngủ đầy, trung đoàn lại được lệnh thọc xuống Nam lộ 8. Nghe phong phanh làm cú vét đợt ba. Lần này phải đưa tiểu đoàn 9 đến trụ tại ấp Tân Phú Trung. Việc chỉ huy tiểu đoàn có các thủ trưởng và cơ quan trung đoàn trực tiếp. Tôi được giao nắm lấy tiểu đoàn 7, tiểu đoàn 8 và các đại đội trực thuộc trụ tại 2 xã Trung An 1, Trung An 2 với cương vị chỉ huy tiền phương của trung đoàn.
Hai xã Trung An nằm dọc phía Tây sát sông Sài Gòn. Ca hai trước đây dân cư đông đúc, vườn tược sum suê, đời sống nhân dân sung túc, Bây giờ hoàn toàn thành 2 khu trắng. Bọn ác ôn thủy quân lục chiến “Trâu điên” ngụy được hỗ trợ phi pháo Mỹ mở những trận càn đẫm máu, đánh phá ác liệt, triệt sạch không còn một cây cột nhà, một gốc cây ăn trái. Đồng bào bị gom về các ấp chiến lược Phú Hòa Đông, Bình Mỹ, Hòa Phú. Rất nhiều gia đình tản mác về mé Sài Gòn... Đến khi tiểu đoàn 2 Quyết Thắng của ta nện cho một trận nên thân diệt một tiểu đoàn “Trâu điên” chúng tởn hồn không dám léo hánh đến nữa. Thay vào đó phi pháo hàng ngày không lúc nào ngừng dội xuống
Vì sát sông lại vùng đất trũng, ruộng đồng trước đây phì nhiêu nay thành hoang địa nên các loại cây cỏ dại dễ mọc và phát triển, đặc biệt cây trâm bầu phủ kín các kênh rạch...
Lần này tôi tổ chức trung đoàn vượt sông Sài Gòn qua bến Cây Đa phía bắc cầu Ông Cộ, chếch Đông nam ấp chiến lược Phú Hòa Đông. Sông nơi đây hẹp, chiều ngang khoảng 50 mét. Hai bờ cây mọc rất rậm. Tàn cây chồm ngã ra sông cách bờ hơn 3 mét sà sát mặt nước. Dù trực thăng năm, mười phút một lần bay đến chiếu rọi đèn pha cặp bờ vẫn không phát hiện bộ đội ta ẩn nấp để lần lượt bí mật vượt sông. Trước đó một ngày tôi sục tìm mọi nơi mới gặp đồng chí huyện đội trưởng Hóc Môn Châu Thái Hùng. Qua anh chúng tôi được trợ giúp hai chiếc thuyền nan, mỗi chiếc một lần chở được 10 người cả trang bị. Qua bờ bên kia là đặt chân lên địa bàn Trung An 1. Phải hai đêm mới đưa toàn trung đoàn qua sông an toàn.
Là vùng trũng nên ruộng ngập nước đến quá đầu gối, có chỗ khi thủy triều lên, nước sông tràn vào sâu ngập bụng.. Được cái bờ ngang bờ dọc khá cao hơn mặt nước gần mét. Bờ dày sáu, bảy mươi phân, trâm bầu phủ kín. Nhờ thế anh em khoét hàm ếch dưới chân bờ làm công sự chống phi pháo. Mỗi lần ẩn núp phải ùm xuống nước lặn vào trong ngóc đầu lên. Nước ngập đến bờ vai. Chịu đựng như thế cho đến khi “khúc giao hưởng của dàn nhạc Tân Tây Lan” ở Đồng Dù câm miệng. Chiến sĩ ta như ếch chui khỏi hang lóp ngóp bò lên. Mỗi ngày năm, bảy bận như thế. Ai cũng chỉ mặc độc quần đùi. Vũ khí bọc trong túi ni lông, bằng mọi cách không để ướt súng đạn.
Tôi thật lúng túng không biết bố trí đội hình thế nào với các tiểu đoàn và đơn vị trực thuộc. Cánh đồng ven sông ngập sâu trong nước. Dịch vào bên trong năm ba trăm mét đồng khô hơn nhưng trống trải. Nơi đây mang tính ém dấu quân hơn là hình thành thế trận phòng ngự hay tấn công. Phòng ngự đánh ai đến đây? Quân ngụy khiếp vía tởn hồn co đầu rút cổ trong các đồn bót. Mỹ cho kẹo cũng chẳng dám lết vào. Tàu chiến nhỏ và giang thuyền vũ trang hoạt động thường ngày trên sông Sài Gòn lúc này không dám ló đầu vượt qua khỏi cầu Lái Thiêu. Tội gì mang mạng sông làm bia cho B40, B41. Việt cộng xơi tái. Đánh bằng bom chùm pháo bầy từ cự ly xa, trên không chụp xuống đối với Mỹ an toàn hơn.
Phòng ngự không biết ai đến để đánh. Tấn công nhằm vào ai nơi này một vùng đất gần như hoang dã không một bóng người ngoài vài tổ du kích. Tôi không hiểu chỉ huy cấp trên định liệu thế nào “nhét” chúng tôi vào đây để ngày đêm đưa lưng hứng bom giơ đầu đội pháo. Trong lúc các chiến sĩ công binh tìm chọn vị trí chỉ huy thích hợp, tôi được anh em du kích đưa đến trú tạm trong chiếc hầm nổi được đắp trên bờ một cái rạch. Nơi này trước đây cây cối um tùm như một khu rừng con, bây giờ bị pháo đốn phạt gãy đổ tơi bời khô héo tàn lụi. Tuy vây cái hầm vẫn được một lùm tre nhỏ may sao còn sót lại che phủ lên trên. Hầm được đắp nổi bởi những đoạn gỗ to bằng bắp chân thưng ghép bốn chung quanh trừ cửa vừa đủ cho một người chui ra bò vào. Bên ngoài, trên nắp đắp một lớp đất bùn dày 2 gang tay. Hầm rộng chứa được 3 người. Tác dụng cửa hầm chỉ che chắn được mảnh đạn hoặc đạn con bắn thẳng từ xa, không chịu nổi một quả đại bác trúng phải. Cùng ở chung hầm với tôi có hai cán bộ chính trị của cơ quan cấp trên thâm nhập xuống đơn vị. Lẽ ra hai đồng chí ấy ở bên cạnh chính ủy hoặc ban chính trị. Không hiểu sao người ta đẩy họ sang tôi. Âu có bạn bên cạnh lúc này cũng ấm lưng một chút. Gọi sở chỉ huy tiền phương nhưng chỉ mình tôi với một cán bộ đồ bản, một cán bộ tác chiến, tổ thông tin liên lạc. Đến trưa công việc bố trí quân và phương án tác chiến tại chỗ hoàn tất. Đã hai đêm thức trắng để tổ chức chỉ huy bộ đội vượt sông dưới ánh đèn pha soi mói của trực thăng vũ trang, lúc này tôi được chút thời gian ngả lưng bên cạnh hai cán bộ chính trị. Vừa chợp mắt vài phút bỗng nghe tiếng động cơ máy bay trinh sát L19 quần đảo trên đầu và tiếng la thét bên ngoài. Tôi trườn người khỏi hầm quan sát. Thì ra một du kích đang chụp nơm bắt cá giữa ruộng trống, máy bay địch phát hiện siết lượn. Tôi thầm kêu: “Hỏng bét, lộ rồi. Chuẩn bị tư thế đón bản giao hưởng số mấy” đây”?
Tiếng động cơ máy bay phản lực xé gió lao đến. Tôi nhìn lên từ máy bay một chiếc dù trắng bung ra rơi ngay đỉnh đầu. Kinh nghiệm cho biết đây là loại bom dù có sức công phá mạnh từ trên không nổ chụp xuống nhằm sát thương sinh lực lộ trên mặt đất. Tôi lăn vào hầm thét bảo hai anh cán bộ nằm sấp hai tay đỡ ngực như động tác chống sóng xung kích của bom nguyên tử.
Một ánh chớp nhoáng lên đồng lúc tiếng nổ như sét đánh và tôi... Không còn biết gì.
Khi tỉnh lại không rõ ngất lịm bao lâu chỉ thấy toàn thân tôi và hai anh bên cạnh bị phủ lên người một lớp đất dày. Cái hầm và bụi tre biến mất. Ba chúng tôi nằm trơ trên mặt đất. Một cơn ho sặc bụi. Tôi phun ra một bụm máu tươi hòa lẫn trong đất trở nên đỏ sậm gần như màu đen. Thử nhúc nhích cảm thấy toàn thân cử động được tôi mừng. Không bị tê liệt chỗ nào. Nếu bị thương chắc không nặng. Ngực tôi tức ran khó thở. Hai anh vẫn còn ngất lịm tôi lay gọi mãi mới tỉnh. Việc đầu tiên cả hai đều nôn ra máu như tôi. Thật may, ba chúng tôi không bị mảnh đạn mảnh bom nào chạm phải, chỉ bị sức ép chấn động từ trên chụp xuống. Trong lúc đang xoa bóp chân tay lau chùi mặt mũi thì từng tràng pháo bay hướng Đồng Dù câu đến. Mấy đợt đầu chúng bắn ngay bên vượt sông, sau rút tầm về hướng chúng tôi. Tôi thét bảo hai anh chạy theo tôi dọc theo con rạch càng xa tầm pháo càng tốt. Như chúng có mắt, càng chạy làn đạn nổ cứ bám theo. May thay tôi phát hiện hai cái hàm ếch bỏ trống. Chúng tôi lao xuống nước chui vào trong. Nhờ thế cả ba thoát nạn.
Các chiến sĩ công binh tìm được chỗ đặt vị trí chỉ huy cho tôi. Một đất gò chưa tới hai trăm mét vuông nổi lên giữa đồng ruộng khô cách bờ sông khoảng 300 mét. Nơi đây chưa thấy dấu nổ của một quả đạn đại bác nào. Nhờ vậy cây cỏ chưa bị tàn phá. Căn hầm được khoét sâu xuống đất sát chân một ụ gò mối khá to và bụi duối có gốc gần bằng một vòng tay người ôm. Hầm vừa đủ cho ba người. Hai đồng chí cán bộ chính trị sau cơn “chết hụt” đã được gọi về cơ quan. Tại đây có tôi và hai đồng chí trợ lý tác chiến, đồ bản.
Chiều xuống. Mặt trời chỉ con sào là lặn. Bỗng chiếc L19 từ đâu lao đến. Nó bay rất thấp cảm thấy ngang tầm ngọn duối. Quan sát vòng lượn tôi biết nó chú ý gò đất nối nơi đặt sở chỉ huy của tôi. Lúc này trong hầm ngoài ba chúng tôi còn có ba đồng chí thông tin liên lạc vừa mang điện và suất ăn buổi chiều đến. Tôi cho mọi người rút xuống hầm. Hầm lúc này chứa quá tải chật như nêm.
Tôi chủ ý nhường cho anh em đành ngồi bên dưới ngay miệng hầm. Có đồng chí chui ra nhường chỗ cho thủ trưởng. Tôi ra lệnh ai ở đâu ngồi yên đấy. Một ánh chớp lóe lên phía trên đầu cùng tiếng nổ chói tai. Luồng hơi nóng bỏng tạt vào người làm tôi tối tăm mặt mũi. Chiếc máy bay trinh sát phóng hú họa một quả rockét nổ tung kề sát miệng hầm chỉ cách đầu tôi hơn mét. Bà đỡ, tôi bị cháy xém một mảng tóc. Da mặt rộp phồng nhưng không mảnh kim loại nào ghim vào người. Chiếc trinh sát bay đi mất dạng trong bóng hoàng hôn phủ trùm.
Chúng tôi cứ trụ nơi đây “lưng hứng bom đầu đội pháo” đã hơn 10 ngày. Không công việc gì ngoài hàng ngày năm ba bận ngụp lặn trong nước, chui ra hầm lủi vào hang như bầy ếch đói mỗi lần dàn nhạc Tân Tây Lan ở Đồng Dù trỗi khúc. Tuy thế không một ai thương vong. Tôi bó gối cạnh gốc duối miệng lẩm nhẩm đọc bài ca dao: “Con kiến mà leo cành đa/leo phải cành cụt leo ra leo vào/con kiến mà leo cành đào/leo phải cành cụt leo vào leo ra...” thì có tiếng người lao xao ngoài vọng cảnh giới. Tiếp đến có mấy bóng người lô nhô về hướng tôi. Tiếng một chiến sĩ báo cáo có đội trưởng du kích muốn gặp.
Đội trưởng du kích thầm thì vừa đủ tôi nghe:
- Chúng em có 4 người bí mật chốt trụ ở Giồng Riềng cách đây trên 500 mét. Vừa nhập nhoạng tối có chiếc trực thăng bay thấp từ hướng Sài Gòn lên không bật đèn. Trông nó như khối sắt đen sì lù lù hạ độ cao cách mặt đất 10 mét gần ngay hầm bí mật bọn em. Từ máy bay thòng dây thả một người tụt xuống đất. Trực thăng bay đi. Bóng người kia đang loay hoay với cái bồng sau lưng bọn em xông lên bắt gọn. Chắc chắn là tên thám báo. Nó bảo lính thuộc trung đoàn 88. Yêu cầu được gặp thủ trưởng.
Tên thám báo - như đội trưởng du kích cho biết thật là một tiểu đội phó trong trung đoàn. Hắn bị bắt cùng hai đồng chí chiến sĩ khác khi lọt vào ổ phục kích. Mỹ dụ họ đầu hàng. Chấp nhận quy thuận sẽ được khỏi chết, ưu đãi trọng thưởng... người đầu tiên được hỏi kiên quyết chối từ. Anh đả đảo đế quốc Mỹ và bọn tay sai. Nếu Nguyễn Văn Trỗi trước khi giặc bắn đã ba lần hô to tên Bác còn anh người chiến sĩ quân Giải phóng miền Nam chỉ kịp hô tên Bác hai lần đã bị tên chỉ huy Mỹ hạ sát bằng phát súng lục ngay bên thái dương! Đồng chí thứ hai anh dũng hy sinh theo gương đồng chí trước. Đến lượt hắn, hắn sợ run không đứng vững nên quỳ gối đầu hàng. Hắn cam kết cộng tác với quân đội Mỹ. Người Mỹ đưa hắn về cấp tốc huấn luyện một số thủ thuật làm điệp viên trong thời gian ngắn khoảng 15 ngày. Trực thăng thả hắn để lộn trở về đơn vị cũ nằm vùng chờ thời nhận chỉ thị sau. Hắn vẫn mặc bộ quân phục bộ đội chính quy từ miền Bắc vào như trước khi bị bắt. Thời điểm này khá nhiều chiến sĩ bị lạc hàng tuần, có khi mươi lăm, hai mươi hôm mới lần dò tìm về được đơn vị là chuyện thường. Thật may ý đồ bọn Mỹ và tên phản bội không lọt khỏi cặp mắt tinh tường cảnh giác của tổ du kích
Ngay trong đêm tôi đã cho áp tải hắn về phía sau để cơ quan chức năng khai thác xử lý.
Vừa xong vụ này có tin tiểu đoàn 9 ở ấp Tân Phú Trung quay về.
Đồng chí Hiến tham mưu trưởng tiểu đoàn ôm chầm lấy tôi. Anh khóc. Chưa kịp nghe anh báo cáo, tôi đoán tiểu đoàn gặp rủi nhiều may ít. Dù trời tối không nhận rõ sắc diện anh, nhưng dáng người anh phờ phạc như một cái bóng vật vờ. Tôi không tưởng nổi bốn chàng trai lãng tử nổi tiếng của trung đoàn: Nhất Ngọ / Nhì Hiền / Tam Xuyên / Tứ Hiến mà anh là “đệ tứ anh hào” có thân hình cân đối vạm vỡ như một vận động viên cử tạ, lúc này trông anh như tàu lá chuối te tua sau cơn bão lớn.
Tuổi tôi và Hiến suýt soát nhau. Quan hệ cộng tác tuy cấp trên cấp dưới, nhưng lúc này tôi muốn là bạn tâm tình của anh, chia xớt với anh nỗi đau quá lớn. Nỗi đau đó không chỉ riêng anh, cá tôi và mọi người trong Trung đoàn.
Theo lời anh kể: hôm tiểu đoàn 9 vừa đặt chân đến ấp, sự đón tiếp của nhân dân ở đây không vồn vã ân cần như ở Tân Thạnh Đông mặc dù cùng chung huyện và đều nằm trong vùng địch kiểm soát. Mọi người thoáng thấy bộ đội ta họ đã gồng gánh tản cư với nỗi sợ “trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết”! Nhiều người vẫn gọi ta “Việt Cộng” chứ không bằng từ ngữ thân thương là anh bộ đội Giải phóng như các nơi khác.
Tôi chen lời anh: “Vì thế nên cần chúng ta đến với họ”. Nói câu này tôi sực nhớ chuyện cũ năm xưa:
Năm 1955 khi trung đoàn 812 Cực nam Trung Bộ chúng tôi vừa tập kết ra Bắc được lệnh hành quân từ Thanh Hóa đóng quân ở hai huyện Hải Hậu và Giao Thủy vùng biển của tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ chống di cư. Đại đội tôi đến trú quân địa bàn xã Giao Hoan, một xã trăm phần trăm đồng bào theo đạo Công giáo. Đã có khá nhiều gia đình khá giả nghe lời tuyên truyền lừa phỉnh của bọn xấu đã bỏ nhà cửa ruộng vườn ra đi. Phần đông dân nghèo ở lại. Đúng ra họ tiếp tục chuẩn bị trước sau gì cũng “đi theo Chúa vào Nam”. Khi thấy bộ đội ta đến, họ vội then cài cửa đóng không cho vào nhà. Họ xem anh em ta như “quỷ sa tăng” không gặp mặt, không giao tiếp... Khá nhiều anh em nản lòng. Đảng chỉ rõ: “Chính vì thế cần chúng ta đến với họ ”. Nghe lời Đảng chỉ, anh em kiên trì dùng mọi biện pháp thuyết phục họ. Từ việc bước đầu gây thiện cảm, không cho vào nhà thì xem chuồng trâu chuồng bò nào bỏ không quét dọn để ở. Làm vệ sinh từng nhà, vệ sinh cả xóm, vét giếng khơi mương, cuốc đất tưới cây, sữa dậu đan phên, lợp nhà trét vách... Trích một phần ba khẩu phần lấy gạo trợ giúp gia đình thiếu đói, chăm sóc trẻ em, thăm nom người ốm... Đặc biệt anh em thấm nhuần quan điểm của Đảng và nhà nước ta là tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào. Anh em khuyến khích họ đi lễ nhà thờ. Trước đây họ sợ bị ta ngăn cấm làm khó dễ, ghi sổ đen... Nhưng với lòng chân thành không chút giả tạo dần dần đã biến từ ác cảm đến thiện cảm, từ xa lánh đến gần gũi. Chúng tôi đã thành công trong nhiệm vụ này.
“Chính vì thế nên cần chúng ta đến với họ”. Tôi lập lại câu nói này với Hiến một cách máy móc mà không nghĩ rằng thời điểm của mỗi việc mỗi khác. Việc làm ngày xưa của chúng tôi ở Hải Hậu - Giao Thủy vào thời bình, không bị gò bó về thời gian. Phải mất hai mươi ngày đến một tháng chúng tôi mới chinh phục được nhân tâm đồng bào theo đạo. Bây giờ anh em tiểu đoàn 9 chỉ có vài tiếng đồng hồ lại đang thời kỳ chiến tranh diễn ra khốc liệt, nhân dân trong vùng địch kiểm soát bị tác động không ít với cái gọi là “chiến tranh tâm lý, chiến tranh chính trị” vu khống xuyên tạc của địch... Vì vậy anh em không thể làm gì khác hơn những điều anh Hiến nói.
“Vì thế nên cần chúng ta đến với họ”, Hiến lắc đầu giọng thiếu tự tin: Đến nhưng họ không săn đón, họ sợ. Ta đâu có quyền chặn giữ họ lại. Chỉ vài ba mươi phút họ lặng lẽ tản đi ra các hướng. Làm công tác tuyên truyền vận động với ai đây? Cán bộ địa phương năm bảy người có đây. Họ sống với ta nhưng không thể làm gì hơn. Thế lấy ai “vùng lên nổi dậy?”.
- Theo Hiến dân ở đây tốt hay xấu?
- Tôi không thể chủ quan đánh giá chuyện dân tốt hay xấu. Nhưng chắc chắn họ sợ. Vì sau cú nện đau quá bất ngờ trong mấy ngày Tết làm Mỹ - ngụy choáng váng. Nhưng sau đó dân thấy ta đến lúc này không làm chủ được Sài Gòn, địch phản kích ác liệt, lực lượng ta tổn thất không nhỏ lại bị đánh bật ra khỏi nội ô. Một số mục tiêu chiếm được lại mất vào tay địch; dân cho ta không thể trụ lâu. Ta rút đi để lại cái họa cho họ. Họ sợ sẽ bị trả thù nếu như biểu lộ sự thân thiện ủng hộ Giải phóng. Bọn ác ôn địa phương tuy rụt cổ rúc đầu lủi trốn, nhưng tai mắt chúng còn lại trà trộn trong dân...
Tôi đưa chiếc bi đông kiểu Mỹ có hơn ca nước trà pha đặc cho anh tợp một ngụm. Anh kể tiếp:
- Tiểu đoàn vừa vào ấp lúc khuya, 9 giờ sáng hôm sau quân Mỹ với bầy xe tăng cùng cả đàn trực thăng kéo đến vây đánh. Cũng may vừa đủ thời gian anh em hoàn thành công sự, bố trí đội hình. Quân Mỹ tưởng bất ngờ tấn công lúc ta chưa đứng chân trụ vững nên ồ ạt bám theo xe tăng xông ào lên. Ta nện cho. Mấy chiếc đi đầu bị bắn hạ, nhiều tên Mỹ phơi thây. Chúng thối lui ra xa dùng pháo bầy và trực thăng oanh kích.
Đã hơn mười ngày đánh nhau liên tục như thế. Được cái ban đêm chúng co cụm, nhờ thế ta có chút rảnh tay thu vén giải quyết hậu quả - giọng anh chùng hẳn xuống - có đêm chúng tôi phải mai táng vội vàng hàng chục anh em hy sinh. Đưa về phía sau hàng chục thương binh nặng. Quân Mỹ có lực lượng bổ sung, thay phiên, còn ta đã hao hụt trong chiến đấu lại phải tách một bộ phận chăm sóc tải thương. Quân số càng ít đi...
Có một câu không thể không hỏi anh nhưng tôi chần chừ bao lần chưa dám đề cập. Tôi sợ không đủ sức chịu đựng nếu như nghe được câu trả lời từ miệng anh thốt ra. Tôi hỏi mà cảm thấy lời nói mình tan biến trong cơn gió thoảng, như giọt nước bốc hơi giữa trưa nắng ngày hè. Chi ba từ thôi mà sao tôi mở mồm khó khăn đến thế!
- Tổn thất ta?
- Hơn một trăm!
- Hơn một trăm? Tôi lập lại như kẻ vô hồn. Cảm thấy toàn thân tê dại, đầu óc choáng váng, rát bỏng da mặt như quả roc-ket nổ sát mang tai ngay mép miệng hầm chiều nay.
150 cán bộ, chiến sĩ thương vong của một tiểu đoàn trong 12 ngày trụ ấp để hỗ trợ quần chúng “nổi dậy” đánh quỵ Mỹ, sụp đổ ngụy, giải phóng miền Nam nhân chiến dịch Tết Mậu Thân (!?).Trước khi xuất phát tôi đến kiểm tra tiểu đoàn ở Bưng Cồng có 365 tay súng. Bây giờ chỉ còn 200. Hai trăm con người vật vờ như cái bóng do thiếu ăn mất ngủ, tinh thần căng thẳng tột độ, suốt ngày lăn lộn trong mưa bom bão đạn... Hai đồng chí tiểu đoàn trưởng lần lượt được bổ sung mà cũng lần lượt ra đi vĩnh viễn. Người cuối cùng cũng không trụ lại. Anh Thạch chính trị viên trước đây trong ban chỉ huy với tôi ở tiểu đoàn 7 được bổ nhiệm phó chủ nhiệm chính trị khi tôi chuyển về ban tham mưu ít lâu. Anh được phái tăng cường cho tiểu đoàn 9 đã ngã xuống cùng chính trị viên tiểu đoàn để lại một vợ hai con nơi đất Hà Tây quê lụa!
Hôm sau trời vừa nhập nhoạng tối tôi được lệnh đến thủ trưởng trung đoàn. Không rõ mấy vị từ đâu lại hiện đủ nơi bờ rạch cạnh cái hầm nổi tôi bị quả bom dù suýt mất mạng. Trung đoàn trưởng chỉ thị cho tôi đưa toàn trung đoàn lui về căn cứ Bưng Cồng(1). Chỉ huy trung đoàn cùng cơ quan đoàn bộ tách hành quân riêng không đi trong đội hình trung đoàn. Mỹ hiện nay chốt đóng gần rạch Láng The. Một chốt ngoài bến vượt Cây Đa. Như thế chúng khóa chặt hai trục đường buộc chúng tôi phải lui trên hướng đó. Tình hình cụ thể các anh không cho biết. Chỉ ra lệnh tôi phải tự xoi đường đưa trung đoàn thoát khỏi khu vực này trong đêm nay.
Các anh có thể không phán đoán ý đồ địch, hoặc đoán và được thông báo của cấp trên nhưng lý do gì đó không phổ biến cho tôi và đơn vị. Nhưng tôi tự suy đoán tìm hiểu riêng cho mình:
- Mỹ đã đến lúc thực hiện những gì tôi và đồng chí tiểu đoàn trưởng ở trung đoàn 2 sư đoàn 9 đã trao đổi khi tôi đến nhận bàn giao địa bàn và chuẩn bị đưa trung đoàn 88 vào thay phiên. Hôm đó là đêm mùng bảy Tết tại Tân Thạnh Tây.
Từ lúc quân ta thâm nhập trụ bám trong các thôn ấp đông dân, Mỹ phản ứng bằng thủ đoạn chiến thuật đánh nhứ đánh dứ cầm chừng “Sáng triển khai tấn công vào rìa ấp, chiều tối lui ra cụm giữa đồng”. Bây giờ đến lúc chúng thực hành phản kích vùng ven đô bằng cách chốt chặn các hướng ta có thể lui, dùng mật độ phi pháo tập trung quy mô lớn, hoặc dùng lực lượng hỗn hợp bộ binh, cơ giới trên mặt đất kết hợp trực thăng không vận đổ chụp chặn đứng tiêu diệt lực lượng ta ở vùng trắng.
- Tôi được đồng chí đội trưởng du kích thông báo cho biết theo nguồn tin của lãnh đạo địa phương, Mỹ chuẩn bị tổ chức một cuộc hành quân quy mô lớn vùng Nam bắc lộ 8. Trước đó chúng sẽ dùng phi pháo đánh phá ác liệt, trong đó hai xã Trung An (1 và 2) là một trong mấy trọng điểm.
Xuống đường nhằm đánh địch. Nhưng nghe tin địch sắp đến ta đành lui. Mới nghe thật buồn cười. Nghĩ kỹ đó là biện pháp khôn ngoan. Không ai dại gì giơ đầu chịu báng lúc này.
Nghệ thuật dùng binh ở trình độ sơ đẳng ai cũng biết lúc tiến lúc lui phải kịp thời đúng lúc. Tranh thủ thời cơ, tạo thời cơ, cướp thời cơ đánh đòn chí tử bất ngờ vào quân thù sơ hở đạt mục đích ý định. Nhưng thời cơ đã qua, yếu tố bất ngờ không còn, quân thù thức tỉnh hồi sức... chớ dại tiếp tục “phóng lao theo lao” kiểu “thua bài khát nước”, rốt cuộc chỉ làm con thiêu thân đâm đầu vào lửa chết cháy một cách lãng xẹt. Chỉ có những cái đầu thiếu thận trọng, chủ quan không đánh giá đúng tình hình, không cân nhắc tính toán thật kỹ so sánh tương quan lực lượng ta, địch... Mới dốc túi “đánh đến đồng xu cuối cùng” vào ván cờ đã biết rằng không còn cơ may thắng.
Trung đoàn trưởng lập lại câu: “Đồng chí tự soi đường đưa trung đoàn lui về căn cứ phía sau an toàn”. Câu nói cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Tôi liếc mắt nhìn các vị chỉ huy, ngoài trung đoàn trưởng, chính ủy có cả trung đoàn phó, tham mưu trưởng, chủ nhiệm chính trị đủ mặt. Thế sao lại là tôi nhỉ? Tôi chưa phải thay ai một trong số các vị đều hiện diện bên tôi. Tôi kịp hãm lại ý nghĩ điên rồ là xin từ chối nhiệm vụ này vì quá sức tôi, một tham mưu phó. Đây là mệnh lệnh tôi phải chấp hành. Tình hình cấp bách không thể đùn đẩy trách nhiệm cho người này người khác.
- Vâng, tôi sẽ thực hiện mệnh lệnh ngay bây giờ.
- Tốt - Trung đoàn trưởng tỏ vẻ hài lòng: “Tôi đón các đồng chí tại Bưng Cồng”. Ổng vỗ vai tôi như “chuyển giao phần lớn chức trách của ông sang tôi. Ông quan niệm như tôi đưa được trung đoàn về sau an toàn như thực hiện thanh công một trận đánh lớn. Đêm hôm ấy có trăng, trời đầy mây nên sáng nhờ nhờ rất tiện cho hành quân. Dạo này Mỹ không còn dùng pháo sáng đèn dù làm mặt trời nhân tạo nữa. Giàu có bậc nhất như Mỹ cũng không sao duy trì nổi tình trạng trên quá vài mươi đêm. Bây giờ có động tĩnh gì nơi đó tự chiếu sáng nhưng cũng chỉ năm bảy phút.
Kế hoạch hành quân của tôi được chỉ huy cấp dưới tán đồng sau khi nghe tôi phổ biến đánh giá tình hình. Không có con đường nào khác ngoài mạo hiểm xuyên qua ấp chiến lược Phú Hòa Đông vượt sát đồn Cây Me về Bên Đinh.
Chúng tôi ém quân ở Trung An 1 và 2 cứ hàng đêm từng tiểu đoàn và các đại đội trực thuộc tổ chức người bám theo anh em du kích dẫn đường chèo xuồng tiếp cận bờ nam ấp. Anh em theo một lối đi riêng bí mật xuyên qua nhiều bãi chướng ngại đột nhập ấp mua gạo, các loại thực phẩm, nhu yếu phẩm... Những thứ này đồng bào chuẩn bị sẵn. Việc vào ra được nhân dân giữ tuyệt đối bí mật, xóa kỹ dấu vết nên thời gian dài không bị lộ.
Quyết định xoi đường xuyên qua ấp tuy mạo hiểm nhưng có cơ sở bảo đảm. Tuy thế chúng tôi quán triệt đến từng người phải im hơi kín tiếng, một yếu tố quyết định bảo đảm thắng lợi cho “trận đánh không phải nổ súng”. Điều rất mừng là trong ấp có sáu, bảy trăm hộ, không hộ nào nuôi chó. Đây là kết quả vận động của cán bộ địa phương để bào đàm chuyện ra vào không bị lộ. Nhờ thế trên nghìn con người im lìm lặng lẽ nối đuôi nhau đi không phát ra tiếng động dù là tiếng vang khẽ của bàn chân đặt lên mặt đất
Tiểu đoàn 7 dẫn đầu đội hình. Tiếp đến đơn vị chỉ huy. Sau tôi các đại đội trực thuộc: thông tin, trinh sát, công binh, trợ chiến, quân y, vận tải... tiếp nối là tiểu đoàn 8. Tiểu đoàn 9 đi sau cùng. Khi vừa đến Bến Đình thật ngẫu nhiên tôi lại đứng trước cửa hầm nơi tôi nhặt được tạp chí văn nghệ Quân Giải phóng có bài thơ của nhà văn Nam Hà “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!” Tôi nhận được báo cáo của tiểu đoàn 7 còn hơn năm trăm mét sẽ đến cầu Rạch Sơn. Đơn vị cuối cùng của tiểu đoàn 9 đã vượt qua khỏi ấp và đồn Cây Me. Tôi thở phào như trút phần lớn gánh nặng trên người. Toàn đội hình đã vượt qua khu vực “ngặt nghèo” nhưng chưa hết nguy hiểm, mặc dù đã đứng chân trên địa bàn du kích của xã Nhuận Đức. Lúc bấy giờ đã 4 giờ sáng. Nếu vượt qua kịp cầu Rạch Sơn, bên kia là đất An Nhơn Tây vùng ta kiểm soát xem như dành được hai phần ba chiến thắng. Tôi sắp phát lệnh tăng tốc độ hành quân thì hướng Sài Gòn tiếng máy bay trực thăng ầm ầm lao đến. Từng loạt pháo bầy Đồng Dù tới tấp phủ trùm bắc cầu Rạch Sơn. Đèn dù từ chiếc máy bay chỉ huy trên tầng cao liên tiếp thả soi sáng một vùng rộng lớn hai xã Nhuận Đức - An Nhơn Tây. Mỹ đổ quân ngay cầu Rạch Sơn. Lộ chăng? Có thể - tôi nghĩ thầm - chúng để ta vượt khỏi ấp thực hiện chốt chặn ngay cầu nơi ta phải đi qua. Trời sáng sẽ dùng tăng, bộ binh tấn công hoặc dùng hỏa lực bom pháo hủy diệt. Tôi không thể chần chừ hạ quyết tâm lệnh ém quân tại chỗ và nhanh chóng triển khai mạng lưới thông tin chỉ huy. Toàn đội hình ép sát trục lộ 15 về hướng sông trên đoạn dài gần 3 ky lô mét. Con lộ đá được làm thời thuộc Pháp từ đường 8 chạy qua giữa hai ấp Phú Hòa Đông - Phú Hòa Tây - Bến Đình, Rạch Sơn đến An Nhơn Tây - Bến Dược - Phú Mỹ Hưng. Nó bị hoang phế lâu ngày nhưng nền đường còn chắc chắn. Mặt đường tuy bị xói lở hư hỏng vẫn còn một lớp đá dày bên trên. Nền đường cao cả mét so với mặt bằng hướng ra bờ sông. Do đó cặp dọc mép đường người ta đào khoét sâu vào lòng đường mấy trăm hầm ẩn núp bom pháo. Mỗi hầm trú từ 3 đến 6 người khá chắc chắn. Trừ khi bom tạ rơi trúng hầm gây thương vong, các loại bom nhỏ hơn hoặc đạn đại bác cỡ 105 ly không suy suyển gì. Chính dựa vào hệ thống công sự này tôi quyết định dừng ém quân tại chỗ. Nếu không vượt qua cầu Rạch Sơn không còn đường nào khác, hơn nữa trời đã sáng. Tôi lệnh cho tiểu đoàn 7 theo dõi cuộc đổ quân Mỹ. Nếu chúng sục vào chỗ tiểu đoàn tốp nào diệt gọn tốp nấy, nhưng phải bám công sự. Yếu tố bảo đảm lúc này là dựa vào công sự. Thoát ly công sự là dâng thịt cho cọp. Tranh thủ khi địch chưa hành động và trời chưa sáng hẳn củng cố ngụy trang hầm hố kín đáo chắc chắn. Nếu xe tăng bộ binh địch tấn công có thể hướng Đồng Dù qua hoặc Phú Hòa Đông lên. Chúng tôi có chiến lũy che chắn là con lộ. Dựa vào đây chiến đấu dài hơi suốt ngày. Đến đêm tùy cơ ứng biến. Chúng tôi có trong tay gần trăm hỏa khí chống tăng cá nhân (B40, B41) và trên chục khẩu đại bác không giật (ĐKZ 75). Mỹ sử dụng vài ba chục xe không ngại. Đường dây thông tin từ chỗ tôi đến các tiểu đoàn thông suốt. Chỉ huy các đơn vị đã quán triệt ý định.
Trời hừng sáng, Mỹ ngưng đổ quân. Tôi ép mình trên mặt đường quan sát. Tiểu đoàn 7 báo cáo chúng đổ trên 100 tên: Như thế một đại đội. Tôi nảy ý định nhân lúc giặc Mỹ đang loay hoay đứng chân chưa vững tung tiểu đoàn 7 ào ra đánh chớp nhoáng đột nhiên bất ngờ làm chúng không kịp trở tay. Sau đó rút về vị trí cũ. Nhưng tiểu đoàn cho biết chúng đổ và co cụm bên kia rạch. Nếu thế không làm ăn được gì. Muốn đánh được Mỹ quân ta phải vượt qua quả đồi con, lao xuống một thung lũng hẹp, băng qua rạch, từ dưới đánh lên cao không có thế. Địa hình bất lợi. Đánh không chắc ăn lại lộ lực lượng. Không thể mạo hiểm. Tôi gạt bỏ ý định quay về căn hầm của mình đợi chờ cơn bão lửa sắp đến. Trời sáng hẳn. 6 giờ.
Cái gì tôi đợi đã đến.
Pháo từ các căn cứ Mỹ hướng về chúng tôi khai hỏa. Qua tiếng nổ đầu nòng tôi ước đoán từ Đồng Dù, Bình Dương, Bến Cát, Chà Rày có khoảng 24 khẩu tập trung đồng loạt giáng xuống nhu vực Bến Đình nơi vị trí chỉ huy của tôi và các đơn vị trực thuộc. Mật độ đạn rơi dày đặc. Tiếng nổ liên tu bất tận như pháo Tết rung chuyển trời đất. Ẩn nấp trong hầm có cảm giác như ngồi trên chiếc thuyền lướt sóng chồng chành lắc lư chao đảo. Bụi đất bên trong bung ra từ ngoài tuôn vào làm mịt mờ. Không khí như đặc lại muốn nghẹt thở. Mấy năm chiến đấu tôi từng bị Mỹ oanh kích không biết bao lần, nhưng lần này kéo dài suốt ngày, dữ dội khốc liệt hơn cả. Đường dây liên tục bị cắt đứt. Các chiến sĩ thông tin không nề hiểm nguy lăn lộn trong mưa bom bão đạn nối liền bảo đảm chỉ huy thông suốt.
Hết đợt pháo lại đến máy bay từng tốp thay nhau ném đủ loại bom. Hết đợt bom của máy bay phản lực đến bọn trực thăng vũ trang phóng róc-két, dội đại liên trọng liên rưới khắp vùng. Cứ thế chúng luân phiên nhau hết đợt này đến đợt khác. Thỉnh thoảng giữa các đợt chúng thực hiện bắn phá hoại. Lối bắn này rất độc. Chiếc trực thăng “xương cá” cứ vè vè trên đầu, có khi treo một chỗ nghiêng ngó xoi mói tìm kiếm mục tiêu chỉ điểm và hiệu chỉnh cho pháo bắn đạn xuyên sâu phá công sự. Loại này khi chạm đất không nổ ngay mà chui sâu từ một đến hai mét mới phát nổ. Trúng phải nó ít có công sự bình thường nào chịu nổi.
Điều lạ, khu vực chúng tập trung oanh kích dữ dội nhất là Bến Đình. Đoạn đầu và đuôi bao gồm vị trí ém quán của các tiểu đoàn bộ binh mật độ đạn pháo và bom rơi khá thưa thớt. Có thể chúng phát hiện ta nhưng không biết có số lượng lớn. Chúng phán đoán ta chí tập trung vùng Bến Đình nên dồn mọi khả năng vào đây. Đến trưa không thấy bộ binh xe tăng Mỹ xuất hiện. Tôi hiểu ra rằng chúng đánh chặn ta và hủy diệt bằng phi pháo là chính. .
18 giờ. Mặt trời chớm lặn. Màn đêm dần buông. Mọi hoạt động của quân Mỹ ngừng hẳn. Chốt Mỹ bên kia cầu nín lặng im lìm. Các tiểu đoàn báo cáo không ai thương vong. Riêng đại đội công binh có một tổ 4 đồng chí chung một hầm bị quả bom đìa trúng phải đều hy sinh. Tôi đến nhìn thấy hố bom khoét sâu như một cái ao. Cả mấy chục con người hối hả đào bới tìm thi thể anh em hồi lâu vẫn không phát hiện được dù là mảnh áo mảnh quần, một vật dụng cá nhân nho nhỏ... Tất cả đều tan biến trong đất bụi bởi sức tàn phá khủng khiếp của quả bom ít ra cũng phải trên hai tạ.
Chúng tôi không thể bám trụ tại đây trong đêm nay. Ngày mai không biết bọn Mỹ giở trò gì. Bất cứ giá nào cũng phải rời khỏi Bến Đình. Quyết tâm và kế hoạch hành quân của tôi được các chỉ huy cấp dưới tán đồng quán triệt. Toàn đơn vị lặng lẽ như ngậm tăm nối đuôi nhau đi chệch qua chốt Mỹ, vượt qua các vạt rừng cao su bị ủi phá, những nền nhà còn trơ lại đôi ba cây cột gỗ cháy đen tiến về ấp Gò Nổi. Đây là một ấp nghèo chưa tới trăm hộ dân nằm hướng Đông bắc căn cứ Trung Hòa cách khoảng một nghìn mét. Ấp được bao bọc từng đoạn bởi hàng tre xanh. Bên trong vườn tược cây trái che chắn khá kín đáo. Ngoài ấp hướng chúng tôi vừa băng qua là khu trắng rộng hàng cây số vuông chằng chịt những chiến hào, giao thông hào trước đây được bộ đội, du kích và nhân dân xây dựng. Nay có đoạn bị xe Mỹ ủi san bằng, có đoạn còn nguyên vẹn. Trong ấp dù không xa đồn binh quân bảo an ngụy địch vẫn không tổ chức được bộ máy ngụy quyền ngụy quân. Ngược lại hoạt động của tổ chức Đảng, ấp đội du kích và an ninh của ta vẫn kiểm soát toàn bộ ấp. Ban đêm ta hoàn toàn làm chủ. Ban ngày cán bộ vẫn trụ bám ấp. Phi pháo Mỹ chỉ oanh kích khu trắng bên ngoài. Thỉnh thoảng chiếc máy bay “cá rô” bay sát mặt đất vài mét neo lại trước sân từng nhà dòm ngó bên trong hoặc gọi người trong nhà đem ra trình giấy căn cước. Nếu ai chưa chứng kiến khó tin, nhưng là chuyện có thật(1).
Trước đây, bước vào đợt 2 chiến dịch Mậu Thân, sau khi tấn công đồn Cây Me ở Phú Hòa Đông, trung đoàn về đóng tại Đồng Lớn thuộc xã Trung Lập Thượng, tôi có đến ấp này bắt liên lạc và làm quen với mấy đồng chí lãnh đạo và du kích ấp. Tôi biết tình hình ở đây nên quyết tâm đưa trung đoàn đến trong đêm, bí mật ém quân ngày mai tại ấp. Tối mai từ đây cắt chéo về hướng Đông bắc ra Phú Mỹ Hưng, An Phú (Hố Bò) (vùng căn cứ địa của các cơ quan lãnh đạo Phân khu 1) tổ chức vượt sông về Bưng Cồng.
Chúng tôi được cán bộ nhân dân ân cần tiếp đón giúp đỡ cơm nước rất chu đáo tận tình. Du kích triển khai mạng lưới trinh sát (cả bí mật và công khai) tăng cường bố phòng từ xa, kịp thời phát hiện hành động địch để chúng tôi kịp thời xử lý. Mọi việc diễn ra xuôi chèo mát mái như ý định. |