Bài viết

Tham mưu trưởng Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn

Hà Tĩnh28/10/2026Phường Tân Triều (Đoàn phường Tân Triều)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thiếu tướng Trần Hải Phụng, tên khai sinh là Trần Lương, sinh năm 1925 tại xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ (cũ), tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước, là con trưởng trong gia đình có bảy anh chị em.

Từ nhỏ, Trần Lương học tại quê nhà, sau đó ra Vinh theo học Trường Quốc học Vinh, nay là Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng. Chính trong quãng thời gian này, người thanh niên quê Đức Thọ bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước và cách mạng. Bị mật thám Pháp truy lùng, ông phải rời quê, sang Lào rồi Campuchia, vừa dạy học vừa tiếp tục hoạt động. Cuối năm 1944, Trần Lương từ Campuchia trở về Sài Gòn, tham gia phong trào Việt Minh.

Tháng 8/1945, người cán bộ trẻ tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn - Gia Định. Chỉ ít tuần sau, ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh tái xâm lược Nam Bộ. Cũng trong ngày này, ông nhập ngũ, trở thành chiến sĩ Đại đội 1, Chi đội 1, Khu 7. Từ đây, gần như toàn bộ cuộc đời quân ngũ của ông gắn với chiến trường Nam Bộ, đặc biệt là Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

Trong những năm 1946-1947, ông lần lượt đảm nhiệm các vị trí chiến sĩ, tiểu đội trưởng rồi đại đội phó thuộc Trung đoàn 301. Từ năm 1948 đến 1949, người cán bộ trẻ tiếp tục trưởng thành qua các cương vị tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó.

Tháng 9/1949, ông được giao làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn chủ lực thuộc Liên Trung đoàn 301-310. Từ năm 1950, Trần Hải Phụng giữ chức Tham mưu trưởng Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Trong giai đoạn này, lực lượng vũ trang hoạt động trong thành phố được tổ chức dưới hình thức các ban công tác thành. Đây là những đơn vị có khả năng bám địa bàn, hoạt động bí mật và trực tiếp tiến công ngay trong khu vực do quân Pháp kiểm soát.

Trên cương vị Tham mưu trưởng Đặc khu, vị chỉ huy trẻ tham gia xây dựng, củng cố những lực lượng này. Kinh nghiệm từ các ban công tác thành trong kháng chiến chống Pháp sau đó trở thành một trong những cơ sở thực tiễn để hình thành và phát triển phương thức tác chiến biệt động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tháng 5/1952, ông được cử đi học tại Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Trần Hải Phụng tập kết ra Bắc. Ông tham gia Đoàn đại biểu quân sự trong Ban Liên hợp đình chiến, rồi công tác tại Bộ Quốc phòng, từng đảm nhiệm các vị trí ở Cục Tình báo Bộ Tổng Tham mưu và cơ quan kế hoạch, vật tư.

Tuy nhiên, Sài Gòn - Gia Định vẫn là chiến trường mà người cán bộ quân sự này được lựa chọn trở lại. Tháng 3/1961, ông nhận lệnh bí mật chuẩn bị vào Nam. Hai tháng sau, với cương vị Trưởng đoàn Sài Gòn - Gia Định thuộc Đoàn Phương Đông 1 của Bộ Tổng Tư lệnh, ông cùng một số cán bộ quân sự vượt Trường Sơn vào chiến trường.

Tháng 8/1961, đoàn tới khu vực Bắc Củ Chi, nơi Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đứng chân. Trần Hải Phụng được bổ sung vào Ban Thường vụ Khu ủy, phụ trách quân sự. Cuối năm 1961, khi Quân khu Sài Gòn - Gia Định được tổ chức, ông giữ chức Quyền Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng; đầu năm 1962 chính thức trở thành Tư lệnh Quân khu. Khi ấy, vị chỉ huy này mới ngoài 30 tuổi.

Sài Gòn là một chiến trường hoàn toàn khác với vùng rừng núi hay nông thôn. Lực lượng vũ trang không thể công khai xây doanh trại, kho vũ khí hoặc tập trung quân số lớn. Đối phương kiểm soát chặt dân cư, đường sá và cơ sở hành chính; chỉ một mắt xích bị phát hiện cũng có thể khiến cả mạng lưới bị phá vỡ.

Trên cương vị Tư lệnh Quân khu, Trần Hải Phụng chủ trương xây dựng địa bàn Sài Gòn - Gia Định thành ba vùng liên hoàn gồm vùng căn cứ giải phóng, vùng tranh chấp ven đô và vùng nội đô. Ở khu vực căn cứ, lực lượng phải giữ được nơi đứng chân của Khu ủy và Quân khu, đặc biệt tại vùng “Tam giác sắt”. Vùng ven trở thành bàn đạp nối căn cứ với thành phố. Còn trong nội đô, yêu cầu đặt ra là xây dựng một lực lượng có thể tồn tại bí mật giữa dân cư, đến thời điểm cần thiết có khả năng đánh thẳng vào những mục tiêu quan trọng.

Một phương châm được những cán bộ từng làm việc với vị Tư lệnh nhắc lại là “lấy lòng dân làm căn cứ”. Theo đó, căn cứ không nhất thiết phải là một khu rừng hay hệ thống địa đạo rộng lớn. Giữa thành phố, căn cứ có thể là một căn nhà dân, một cơ sở kinh doanh hoặc một gia đình hợp pháp. Dưới nền nhà có thể là hầm vũ khí, trong khi phía trên cuộc sống vẫn diễn ra bình thường.

Chiến sĩ biệt động cũng không thể xuất hiện với quân phục. Họ phải có giấy tờ, nghề nghiệp và một vỏ bọc đủ chắc chắn để sinh sống giữa thành phố trong thời gian dài.

Tháng 4/1965, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp tại Suối Dây, Tây Ninh, triển khai “Kế hoạch X”, chuẩn bị lực lượng cho thời điểm có thể tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

Vị Tư lệnh được giao phụ trách công tác đô thị và lực lượng vũ trang đô thị. Từ yêu cầu đó, các đơn vị biệt động được củng cố, thống nhất về tổ chức, đồng thời hình thành hệ thống bảo đảm cho tác chiến. Bộ phận A20 đảm nhiệm vận chuyển vũ khí từ vùng giải phóng vào thành phố; A30 phụ trách xây dựng cơ sở, đào hầm, cất giấu vũ khí và chuẩn bị nơi ém quân.

Những khẩu súng, thùng đạn, thuốc nổ được bí mật vận chuyển qua nhiều chặng rồi đưa vào các hầm nằm dưới nhà dân. Một số cơ sở được chuẩn bị từ nhiều năm trước khi trận đánh diễn ra. Cùng với hệ thống hầm vũ khí là mạng lưới giao liên, trinh sát, cơ sở chính trị và những gia đình tham gia nuôi giấu cán bộ.

Trong thời gian vị Tư lệnh quê Hà Tĩnh chỉ huy Quân khu, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định và biệt động đã tiến hành nhiều trận đánh gây tiếng vang. Các tài liệu của Quân khu 7 và Thành ủy TP.HCM nhắc tới những mục tiêu như tàu USNS Card, khách sạn Caravelle, cư xá Brinks, Đại sứ quán Mỹ, sân bay Tân Sơn Nhất cùng nhiều cơ sở quân sự trong và quanh Sài Gòn. Ở vùng ven, lực lượng vũ trang còn hoạt động tại Củ Chi, Láng Le - Bàu Cò, Thành Tuy Hạ, kho xăng Nhà Bè và nhiều địa bàn khác.

Dấu ấn của ông Trần Hải Phụng không nằm ở việc trực tiếp cầm súng trong từng trận đánh, mà ở quá trình tổ chức một thế trận nhiều tầng, từ căn cứ bên ngoài, bàn đạp vùng ven đến mạng lưới nằm sâu trong lòng thành phố.

Đến cuối năm 1967, hệ thống được chuẩn bị trong nhiều năm đứng trước cuộc thử thách lớn nhất. Để chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chiến trường Sài Gòn - Gia Định được tổ chức lại thành sáu phân khu theo các hướng tiến công.

Trần Hải Phụng được giao làm Tư lệnh Phân khu 6 - phân khu nội đô, gồm các ban, ngành, đoàn thể cùng lực lượng biệt động và an ninh hoạt động bên trong thành phố. Ông đồng thời tham gia Bộ Tư lệnh Tiền phương Nam cùng các cán bộ lãnh đạo như Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng.

Một trong những nhiệm vụ đặc biệt là tổ chức lực lượng tiến công các cơ quan đầu não tại trung tâm Sài Gòn. Chỉ có 6 ngày để chuẩn bị cho trận đánh chiến lược vào Đại sứ quán Mỹ, Thiếu tướng Trần Hải Phụng đã giao cho ông Ngô Thanh Vân (Ba Đen) nhiệm vụ tổ chức đưa vũ khí vào nội đô Sài Gòn. Dù không biết chữ, ông Ba Đen vẫn bằng sự mưu trí và kinh nghiệm đã bí mật vận chuyển toàn bộ số vũ khí vào thành phố, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Khi công tác chuẩn bị hoàn tất, ông Võ Văn Kiệt khẳng định đây sẽ là trận đánh giáng một đòn mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ.

Đêm 30 rạng sáng 31/1/1968, các đội biệt động đồng loạt xuất kích. Những mục tiêu được tiến công gồm Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Đài Phát thanh, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa, Bộ Tư lệnh Hải quân cùng nhiều vị trí quan trọng.

Sau đợt đầu Xuân Mậu Thân 1968, Trần Hải Phụng được phong quân hàm Đại tá ngay tại chiến trường. Với người chỉ huy Phân khu 6, nhiệm vụ lúc này không dừng lại ở việc tổng kết những trận đánh đã diễn ra. Hệ thống cơ sở bí mật từng được xây dựng trong nhiều năm bị tổn thất nặng, đòi hỏi phải nhanh chóng khôi phục để lực lượng tiếp tục bám trụ Sài Gòn.

Trong những năm 1969-1970, các đầu mối bị đứt được tìm cách nối lại, cơ sở mới được gây dựng, hệ thống liên lạc và lực lượng vũ trang trong thành phố từng bước được củng cố. Tháng 8/1972, Quân khu Sài Gòn - Gia Định được tái lập. Vị Đại tá tiếp tục được giao giữ chức Tư lệnh và đảm nhiệm cương vị này đến cuối năm 1974.

Sau hơn một thập niên liên tục bám chiến trường, sức khỏe suy giảm, tháng 1/1975 ông được đưa ra miền Bắc kiểm tra, điều trị và dự kiến đi học ở nước ngoài. Tuy nhiên, khi cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 phát triển nhanh chóng, kế hoạch này thay đổi. Từ tháng 3, Trần Hải Phụng được điều về Bộ Tổng Tham mưu, trực tiếp theo dõi tình hình Sài Gòn - Gia Định và sau đó là Chiến dịch Hồ Chí Minh từ ngày 26 đến 30/4/1975.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng. Năm 1978, người từng có nhiều năm gắn bó với chiến trường Sài Gòn - Gia Định trở lại thành phố, giữ cương vị người đứng đầu Bộ Chỉ huy quân sự TP.HCM và công tác tại đây đến năm 1983.

Năm 1982, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Kinh nghiệm nhiều năm chỉ huy một chiến trường đô thị sau đó được sử dụng trong một nhiệm vụ quốc tế đặc biệt. Năm 1985, Việt Nam cử Đoàn chuyên gia quân sự 385 sang Cuba. Thiếu tướng Trần Hải Phụng được giao làm Phó trưởng đoàn, đặc trách giúp bạn nghiên cứu phòng thủ đô thị.

Sau ba năm công tác, tháng 3/1988, ông trở về nước. Đầu thập niên 1990, vị tướng dành phần lớn cuộc đời cho chiến trường Sài Gòn - Gia Định nghỉ hưu. Những năm sau đó, ông tiếp tục tham gia Hội Cựu chiến binh TP.HCM, Câu lạc bộ Truyền thống kháng chiến khối lực lượng vũ trang và công tác tổng kết chiến tranh, chủ biên nhiều tài liệu lịch sử về chiến trường Sài Gòn - Gia Định.

Thiếu tướng Trần Hải Phụng qua đời ngày 4/3/1997, hưởng thọ 72 tuổi. Ngày 25/4/2015, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên ông sau đó được đặt cho một tuyến đường tại TP.HCM.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn