THĂM NGƯỜI BẠN LÍNH
Nội dung câu chuyện xoay quanh cuộc gặp gỡ sau bao nhiêu năm xa cách giữa tác giả Nguyễn Trung Hiếu và bạn chiến đấu Hoàng Công Chức, từ đó những ký ức về những năm tháng chiến tranh ùa về.
Đang róc mía cách nhà chừng vài trăm thước, nghe chúng tôi đến, anh Chức lật đật chạy về, người đẫm mồ hôi:
- Chu cha lâu quá! Ông hỏi ai mà biết chỗ này giỏi vậy?
- Thì cứ như trước thôi mà. Tôi nắm tay anh, bàn tay chai sần, tội nghiệp. Anh ôm chầm lấy tôi, líu ríu:
- Hồi này ông đỡ hơn mọi năm nhiều.
- Ừ, nhờ ơn trời thôi.
- Trông anh không khác mấy, chỉ hơi đen nhưng chắc khỏe và vẫn mau mắn như hồi nào:
- Làm ăn ra sao, nói anh em mừng với.
- Cũng xập xệ, gọi là, chứ lương thì ông biết rồi.
Năm Bảy Hai, đánh quận lỵ Ba Tơ, anh Chức bị thương, sau đó anh được chuyển ngành. Chúng tôi quen nhau từ đó, nhưng rất ít khi gần vì anh ở bộ phận sản xuất. Phải nói, những năm tháng ấy, chúng tôi có được cái để đắp đỗi qua bữa, một phần nhờ công sức của anh.
Là trung úy đặc công, nhưng anh như một nông dân thực thụ. Cùng với một vài người, không khỏe lắm, anh đã khai vỡ từng mảnh nhỏ ruộng hoang hóa và đất núi, nếu gộp lại cũng đến hàng chục công mẫu, chỉ bằng cuốc và rựa để cấy lúa, trồng mì, nuôi heo gà. Công việc hết sức vất vả và khắc nghiệt - nghĩa là tay làm, nhưng tai phải dóng lên, mắt cứ phải lất láo để nghe nhìn từng động tỉnh nhỏ, từng hiện tượng khác lạ từ nhiều phía, nhiều ngã vì tàu săn của Mỹ rà sát mặt đất, không dễ phát hiện, nhất là bọn biệt kích rừng, chúng rất ranh ma, giả thường dân đi đốn củi, lục lọi khắp nơi... Còn pháo bom thì khỏi nói, bất kể đêm hay ngày, chúng cứ vãi ào xuống như mưa đá, đến con gà cũng không dám cất tiếng gáy, nhưng bộ phận anh Chức vẫn bám vùng đất ấy mà sản xuất suốt những tháng năm ác liệt.
Cái xóm núi mênh mông này, sát chân lũng Đá Sơn được hình thành sau giải phóng. Anh Chức sống ở đó với 54 gia đình, phần đông bà con nghèo ở các nơi đến lập nghiệp, đời sống đang còn rất thiếu thốn. Cả ngày loay hoay với ruộng đồng, tối ăn vội ba hột dưới ánh đèn dầu leo lắt, xong là ngủ, chưa hề biết truyền hình là gì. Họ muốn có được chút ánh sáng điện như ở xóm ngoài, cách vài cây số, nhưng phải nộp tám chục triệu, ai cũng lè lưỡi, chép miệng: Biết đến bao giờ!
Tôi hỏi: Chả lễ chịu miết vậy sao? Anh Chức lắc đầu thất vọng: Khó lắm, ông ơi! Muốn có được chút ánh sáng thời hiện đại hóa cũng phải có tiền, đương nhiên rồi, nhưng ở cái xóm núi này, cái ăn mỗi ngày chưa lo xong, huống là... Như vậy nghị quyết của Đảng, vẫn mãi là nỗi khát khao dài dài.
Thế mới biết không dễ chút nào những người khốn khổ, dẫu chân chính đến đâu, tự họ bức phá được số phận để nhích gần tới cuộc sống ít nhiều được cải thiện như ở một vài vùng có điều kiện phát triển.
Có thể cùng hoàn cảnh nên họ rất thương yêu, bảo vệ nhau như ruột thịt. Làng trải rộng vài ba cây số, nhưng lỡ đau ốm hoặc có việc cần, như làm nhà, gặt hái... Chỉ cần "ới" một tiếng là cả làng có mặt, giúp đỡ nhau vô tư. Đặc biệt từ hồi giờ không hề có chuyện hơn thua, vặt vãnh con gà, trái bí, xô bồ chụp giựt như một số nơi khác.
Anh Chức thực sinh sống ở vùng đất này đã ngót hai mươi năm. Bà con rất thương quí anh tính thật thà, chịu khó, coi anh như người thân tín. Nhưng hầu không mấy ai biết anh ở vùng nào của miền Bắc và đã chiến đấu như thế nào trong suốt cuộc trường chinh vệ quốc, bởi như tôi biết, anh Chức không mấy khi nói về mình mà làm chi có thời gian để nói: ai cũng có việc của họ, anh cũng vậy, với đồng lương được ấn một trăm chín mươi tám nghìn, không phơi lưng úp mặt trên ruộng rẫy, làm sao trang trải cho con cái ăn học, trưởng thành. Cháu lớn 22 tuổi, bộ đội chuyên nghiệp, ở Gia Lai, cháu gái công nhân Công ty may mặc xuất khẩu ở Sài Gòn, các cháu nhỏ đang học.
Tuy quen biết nhau gần 30 năm, nhưng đến tận giờ, tôi mới hiểu anh - một người lính - tôi hằng kính trọng: Thiếu sinh quân Hoàng Công Chức, tốt nghiệp Trường sĩ quan lục quân khóa 10, anh bộ đội Cụ Hồ bằng xương bằng thịt, chất khí và tâm hồn vẫn vẹn nguyên - người lính.
Có lẽ Hoàng Công Chức, người duy nhất, quê Lập Thạnh, Vĩnh Phúc được tham gia những trận lừng danh của hai miền đất nước đang ở tuổi 59, sức khỏe còn rất tốt lại định cư ở miền Trung. Một kỷ niệm sâu sắc mà anh Chức vẫn như in trong lòng, đó là đánh xong cứ điểm Mường Thanh, ngày 24 tháng 4 năm 1954, anh được kết nạp Đảng cùng với Giáp Văn Khương. Như được tiếp thêm sinh khí, anh lại cùng đơn vị đánh Cầu Lộ, Yên Dũng, Bắc Giang và năm 1961, anh qua Lào, đánh cánh đồng Chum. Năm 1962, ba lần đánh A Sầu, lại hành quân vào Khu V đánh Ba Gia - Vạn Tường. Tết Mậu Thân, đơn vị đặc công của anh đánh thọc vào sân bay Quảng Ngãi và đến năm 1972, đánh quận lỵ Ba Tơ, anh bị thương, được chuyển về tuyến sau. Chúng tôi quen nhau từ đó. Bà con bảo: Người Bắc như anh Chức cũng hiếm, không hề mích lòng đứa nhỏ. Tôi thầm nghĩ: Như anh dễ có nhiều gút mắt, công thần, nhưng không, anh nói:
- Việc gì được giao, làm tròn là sướng rồi, đòi hỏi chi và biết đòi hỏi ai.
Thú thực, tôi không có ý ngợi ca, nhằm an ủi anh như an ủi một số phận không may trong cuộc đời người trai xứ Bắc, nhưng chính những đức tính của anh đã làm tôi hiểu và yêu hơn... người lính.



