Khác

Thăm viếng nơi Thái sư Lê Văn Thịnh mất ở Đình Tổ (Thuận Thành, Bắc Ninh)

Cuốn “Trống đồng Thanh Hóa” của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (Hà Nội) ấn hành năm 2013 là công trình nghiên cứu khá công phu và tương đối đầy đủ về trống đồng được sưu tầm, phát hiện trên vùng địa đầu Bắc Trung Bộ.

Quảng Trị20/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những năm gần đây, mọi người thường nhắc đến Đền thờ Đức Thánh Trạng hay Đền thờ Quan Trạng ở xóm Chùa, thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Đây là ngôi đền trên quê hương Trạng nguyên Lê Văn Thịnh, người đỗ đầu khoa thi đầu tiên (1075) của nhà Lý và được phong tới chức Thái sư.

Nhưng ít ai nhắc đến một di lích lịch sử văn hóa cũng là nơi thờ Ngài. Đó là ngôi đình ở thôn Đình Tổ, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Theo dân gian truyền lại, đây là nơi Ngài trút hơi thở cuối cùng, không kịp về lại quê cha đất tổ. Tôi đi dọc triền đê sông Đuống về thăm nơi Ngài hóa. Bát ngát màu xanh của ngô, lúa và hương đồng gió nội mênh mang cùng nỗi ai hoài, cảm phục Tâm và Tài của vị Trang nguyên khai khoa triều Lý.

Vinh quang và bi thương của cuộc đời Trạng nguyên Lê Văn Thịnh, cho đến hôm nay, vẫn hiển hiện trên trang sử và cả trong những câu chuyện còn lưu trong dân gian. Sử cũ đã chép về công trạng của ông: ông sinh năm Canh Dần (1050). Thông minh, tài giỏi hơn người, năm 25 tuổi, sau khi đỗ đầu khoa thi năm Ất Mão (1075), ông được bổ chức Nội Cấp sự (chức quan thuộc Nội thị sảnh chuyên quản công việc nội bộ cung đình); ít lâu sau ông được tuyển vào triều, dạy vua Lý Nhân Tông học. Đến cuối năm 1076 ông được thăng chức Thị lang bộ Binh (nắm quyền quản lý hành chính quân sự cả nước).

Sau khi đại bại trận Như Nguyệt năm 1077, nhà Tống phải lui quân. Năm 1079, nhà Tống phải cắt trả lại đất hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, nhưng không chịu trả phần đất mà chúng đã chiếm trước đây của thổ dân là Vật Dương và Vật Ác. Năm 1084, vua Lý Nhân Tông cử ông đến trại Vĩnh Bình, biên giới Việt Trung (thuộc Cao Bằng ngày nay) để giải quyết vấn đề ranh giới giữa hai nước. Ông đã đấu tranh kiên quyết với sứ giả nhà Tống về cương giới, đòi được phần đất đã bị chiếm gồm 6 huyện, 3 động thuộc châu Quảng Nguyên (nay là phần đất ở phía Tây bắc tỉnh Cao Bằng mà họ đã chiếm) cho Đại Việt.

Lòng tham không bao giờ hết, người Tống vẫn tiếc hậm, tiếc hụi nên sau đó có thơ rằng: “Nhân tham Giao Chỉ tượng/ Khướt thất Quảng Nguyên kim” nghĩa là: “Vì tham voi Giao Chỉ/ Bỏ mất vàng Quảng Nguyên”. Với chiến công có một không hai trên bàn ngoại giao, năm 1086, vua phong cho ông chức Thái sư trong triều. Thái sư là chức quan đứng đầu trong "Tam thái", bao gồm: Thái sư, Thái phó, Thái bảo. Đây là chức quan tuy không đứng đầu triều trong chế độ phong kiến nhưng phẩm trật còn cao hơn tể tướng. Mười một năm ở cương vị của mình, ông đã là cánh tay phải của vua Lý Nhân Tông (1072-1127). Nhưng mười năm sau, vị quan đại thần này đã bị nạn tháng 3 năm 1096 với án hoá hổ giết vua trên hồ Dâm Đàm. Ông được vua tha tội chết và bị đày lên Thao Giang. Ở nơi lam chướng, cô đơn với bao tâm tư giấu kín trong lòng, ông vẫn làm tròn bổn phận, cho đến ngày đổ bệnh. Ông lần tìm về quê hương. Nhưng ác nghiệt thay, về đến làng Điềng, ông ốm nặng. Tích xưa được dân Đình Tổ kể lại: ông được một lão nông mời ăn bát cháo thái (khác với cháo hoa, cháo thái được làm từ gạo ngâm, xay lấy bột, nấu bột dẻo quánh, cho lên phên tre phơi, rồi thái nhỏ thành sợi, sau đó lấy nước dùng, như nước luộc gà, nấu sợi cháo chín, trong suốt, nên gọi là cháo thái). Lão nông lại hỏi ông có thèm ăn thứ gì nữa không? Ông trả lời muốn ăn một khúc cá nướng. Lão nông nướng con cá mè hoa, đem biếu Lê Văn Thịnh. Ông nằm nghỉ và mất tại đó. Dân làng Điềng đưa Ngài ra một gò nổi bên bờ sông Dâu. Xác Ngài được mối đùn kín, dân làng thấy lạ liền chôn cất và lập đình thờ, tôn Ngài làm Thành hoàng làng. Cũng từ đó, đình làng Điềng đổi tên thành Đình Tổ - đình thờ vị Tổ của nền khoa bảng nước Nam và làng Điềng rất vinh dự, tự hào được đổi tên thành làng Đình Tổ. Hàng năm, dân làng lấy ngày 12 tháng 8 âm lịch làm ngày lễ hội Làng và tế lễ Ngài. Lễ hội có tục lệ “Nướng cá tế thần” và nấu cháo thái dâng cúng Thành hoàng và ông bà tổ tiên.

Lối nhỏ ra mộ ông đầy cây nghể trắng, cỏ dại vài năm trước đây, nay đã có cầu vắt qua hồ trồng sen. Tôi đứng trước mộ ông, ngùi ngùi. Ngôi mộ bao năm sè sè nấm đất, giữa đồng làng đã được UBND xã Đình Tổ và nhân dân góp công đức đã xây cất khang trang hơn. Tôi kính cẩn thắp hương trước mộ Thái sư rồi sang đình làng.

Ngôi đình được dựng từ thời nhà Lê, nhưng chỉ còn một số nét hoa văn trên cốnmang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn. Cụ từ cho tôi biết: Thời Pháp xâm lược, giặc Pháp đóng bốt trên đê sông Đuống. Chúng đốt trụi làng tôi, phá đình nên sau ngày hoà bình, dân xã tôi không có điều kiện xây dựng lại. Năm 1993, có ban quản lý di tích rồi, chúng tôi mới từng bước tu sửa đình”. Hiện vật vô giá của đình chính là 11 sắc phong mà các vua phong cho Thành Hoàng Làng - Thái sư Lê Văn Thịnh. Cụ từ cho biết thêm: “Năm 1994, chúng tôi đã đưa sắc phong ra Viện Hán Nôm để cán bộ của Viện dịch, từ đó Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) có thêm cơ sở để khẳng định công trạng của Ngài. Năm 2003, 2004 cả đình làng Đình Tổ và đền thờ Lê Văn Thịnh ở Đông Cứu đều được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia, sau đó chúng tôi được cấp kinh phí tu sửa đình. Còn rất nhiều việc phải làm để đình và chùa thành quần thể di tích trong khuôn viên còn sơ sài này cô ạ”.

Theo lệ cũ, hàng năm cứ vào ngày 24 tháng Chạp, dân Đông Cứu quê hương ông sang Đình Tổ góp giỗ. Hoành phi rực rỡ bốn chữ Thánh cung vạn tuế và đôi câu đối Lương triều Lưỡng sứ/ Khai quốc trạng nguyên, chính là lòng dân dành cho Trạng nguyên khai khoa của nhà nước Đại Việt triều Lý. Những oan khiên của một thời đã qua đang được hóa giải.

Đặc biệt, trong quá trình thu thập tư liệu để có thêm những chứng cứ cho bài viết, tôi đã đến làng Võng Thị, tìm hiểu câu chuyện bi thương của ông trong vụ án hồ Dâm Đàm. Thần phả làng Võng Thị, nay là phường Bưởi quận Tây Hồ cũng có các chi tiết về hồ Dâm Đàm và Thành Hoàng của làng Võng Thị là Mục Thận, con trai ngư ông Mục Hạp chuyên nghề chài lưới do các cụ truyền nghề. Tước bỏ đi lốt hổ, hay câu chuyện Lê Văn Thịnh hoá hổ, còn lại cốt lõi của sự thật, chính là thói tỵ hiềm, đố kỵ hãm hại người tài, thời nào cũng có. Lòng dân công bằng, chung thủy, nhân hậu đã ghi công đức Ngài, thờ Ngài trong niềm tự hào, kính trọng người đã có công với nước, bảo vệ biên cương bờ cõi.

Tấm gương của Thái sư Lê Văn Thịnh đấu tranh với giặc phương Bắc, bảo vệ cương vực đất nước luôn được nhân dân truyền tụng, ngợi ca.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn