Thành cổ những ngày không ngủ
Trong ký ức của ông Nguyễn Văn Hòa – một cựu chiến binh quê Thạch Hà, Hà Tĩnh – những ngày tháng ấy vẫn hiện lên rõ ràng như mới hôm qua. Ông kể lại với giọng trầm ấm nhưng đầy xúc động, đôi mắt ánh lên niềm tự hào xen lẫn nỗi đau thương.
Khi nhắc đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều người sẽ nhớ ngay đến những trận đánh ác liệt ở Quảng Trị năm 1972. Trong ký ức của ông Nguyễn Văn Hòa – một cựu chiến binh quê Thạch Hà, Hà Tĩnh – những ngày tháng ấy vẫn hiện lên rõ ràng như mới hôm qua. Ông kể lại với giọng trầm ấm nhưng đầy xúc động, đôi mắt ánh lên niềm tự hào xen lẫn nỗi đau thương.
Ông Hòa nhập ngũ năm 1968, khi vừa tròn 20 tuổi. Lúc ấy, đất nước đang trong giai đoạn khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Thanh niên cả nước hăng hái lên đường, coi việc cầm súng bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm thiêng liêng. Ông Hòa cũng không ngoại lệ. Rời quê hương Thạch Hà, ông khoác ba lô, chia tay cha mẹ, người thân để bước vào con đường binh nghiệp.
Năm 1972, ông được điều động vào chiến trường Quảng Trị – nơi được coi là “chảo lửa” của miền Trung. Thành cổ Quảng Trị trở thành biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất của quân và dân ta. Ông Hòa cùng đồng đội được giao nhiệm vụ giữ vững trận địa trong suốt 81 ngày đêm.
“Bom đạn dội xuống suốt ngày đêm, đất trời rung chuyển, khói lửa mịt mù. Nhiều đồng chí đã ngã xuống ngay bên cạnh tôi. Có những lúc tưởng chừng không thể trụ nổi, nhưng chúng tôi chỉ có một niềm tin duy nhất: phải giữ bằng được từng tấc đất của Tổ quốc,” ông Hòa xúc động kể.
Cuộc sống trong chiến hào vô cùng khắc nghiệt. Lương thực khan hiếm, có khi chỉ là nắm cơm khô với muối vừng, nước uống phải lấy từ sông Thạch Hãn. Nhưng tinh thần chiến đấu thì chưa bao giờ lay chuyển. Ông Hòa nhớ lại: “Chúng tôi hát vang những bài ca cách mạng, coi đó là sức mạnh tinh thần để vượt qua tất cả. Mỗi khi có đồng chí hy sinh, chúng tôi càng thêm quyết tâm, bởi máu của anh em đã thấm vào từng tấc đất này.”
Trong ký ức của ông, hình ảnh những người đồng đội vẫn còn nguyên vẹn. Có người mới chỉ 18, 19 tuổi, chưa kịp biết đến tình yêu đôi lứa, chưa kịp một lần trở về quê hương. Họ đã nằm lại nơi chiến trường, để hôm nay đất nước có hòa bình. Ông Hòa nghẹn ngào: “Tôi may mắn sống sót trở về, nhưng nhiều đồng đội thì không. Mỗi lần nhớ lại, tôi thấy mình phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh ấy.”
Sau ngày đất nước thống nhất, ông Hòa trở về quê hương, tiếp tục cuộc sống đời thường. Ông tham gia sản xuất, xây dựng quê hương, đồng thời tích cực kể lại những câu chuyện thời hoa lửa cho thế hệ trẻ. Ông tin rằng, ký ức chiến tranh không chỉ là nỗi đau mà còn là bài học quý giá về lòng yêu nước, sự kiên cường và tinh thần đoàn kết.



