Bài viết

THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ: BIỂU TƯỢNG BẤT DIỆT GIỮA MÙA HÈ ĐỎ LỬA 1972

Thành Cổ Quảng Trị là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, nằm tại trung tâm thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Nơi đây gắn liền với 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt mùa hè năm 1972, khi quân và dân ta kiên cường bảo vệ từng tấc đất trước mưa bom bão đạn của kẻ thù. Thành Cổ không chỉ là chứng tích của một thời chiến tranh khốc liệt mà còn là biểu tượng bất diệt của tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và sự hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Thái Nguyên17/06/2026K21 – Quản Trị Kinh Doanh 2 – Khoa Kinh doanh và logistics (Trường đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy ác liệt, trên dải đất miền Trung khắc nghiệt, Thành Cổ Quảng Trị đã đi vào lịch sử như một biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và sự hy sinh vô hạn của quân và dân ta. Không chỉ được ghi nhớ bằng những con số khốc liệt của bom đạn, Thành Cổ còn sống mãi qua ký ức của những con người đã trực tiếp chiến đấu và để lại một phần tuổi trẻ nơi đây.

1. Dấu ấn lịch sử giữa mưa bom bão đạn

Thành Cổ Quảng Trị tọa lạc tại trung tâm thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ (28/6 – 16/9/1972), nơi đây đã trở thành chiến trường ác liệt bậc nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại Việt Nam.

Trong suốt 81 ngày đêm ấy, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã trút xuống khu vực Thành Cổ và thị xã Quảng Trị hơn 328.000 tấn bom đạn, sức công phá tương đương nhiều quả bom nguyên tử. Giữa sự chênh lệch lớn về hỏa lực, các chiến sĩ Quân giải phóng vẫn kiên cường bám trụ, chiến đấu từng mét hào, từng bức tường đổ nát, biến Thành Cổ thành pháo đài của ý chí con người Việt Nam.

2. Người lính trong lòng Thành Cổ – 81 ngày đêm không quên

Cùng với hàng vạn chiến sĩ trên khắp mọi miền đất nước, đầu năm 1972, Nguyễn Như Hoành, khi ấy mới mười chín tuổi, rời quê hương Cẩm Vịnh (Hà Tĩnh) để bước vào chiến trường Quảng Trị. Sau chưa đầy hai tháng huấn luyện quân sự “thần tốc” tại xã Kỳ Thượng, ông được biên chế vào Trung đoàn 18 – Sư đoàn 325, hành quân thẳng vào tuyến lửa.

Giữa tháng 7/1972, đơn vị ông Hoành tới khu vực Ngã ba Sòng, phía Bắc thị xã Đông Hà. Trước mắt những người lính trẻ là một Quảng Trị hoang tàn, đổ nát, mùi khói bom còn đặc quánh trong không khí – dấu hiệu của một cuộc chiến sinh tử đang chờ phía trước. Chỉ cách sông Thạch Hãn khoảng 20km nhưng phải mất ba ngày ba đêm hành quân trong mưa bom bão đạn, đơn vị mới tiếp cận được bờ sông.

Khi đang kết bè vượt sông, đơn vị bị địch phát hiện và tập kích. Tiểu đoàn trưởng, chính trị viên cùng nhiều chiến sĩ hy sinh ngay trước giờ xung trận. Trong hoàn cảnh đó, những người lính mới mười chín, đôi mươi – chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu – chỉ biết động viên nhau giữ vững tinh thần, tiếp tục tiến lên, bởi phía sau là Tổ quốc.

Trong Thành Cổ, mỗi ngày địch đánh từ 7 đến 8 trận, bằng những loại vũ khí hiện đại nhất. Người lính phải bám vào từng bờ tường sập, từng ụ gạch vỡ để chiến đấu. Người trước ngã xuống, người sau lập tức tiến lên. Có những gia đình mà hai anh em ruột cùng hy sinh, người anh vừa ngã xuống thì năm ngày sau, người em cũng nằm lại nơi này. Có những lúc, xuồng cứu thương vừa ra giữa sông Thạch Hãn đã bị bom đánh chìm, mang theo cả thương binh và người cứu thương, để lại nỗi đau quặn thắt cho những người còn sống.

Không chỉ hiểm nguy bởi bom đạn, đời sống sinh hoạt của người lính Thành Cổ vô cùng gian khổ. Vì phải bỏ lại ba lô, mỗi chiến sĩ chỉ có một bộ quân phục mặc suốt nhiều tháng. Quần áo rách tả tơi vì bom đạn, bùn đất và khói súng phủ kín khuôn mặt. Nguồn nước bị ô nhiễm nặng, thuốc khử khuẩn không đủ dùng, nhiều khi các chiến sĩ buộc phải uống nước bẩn để cầm cự. Lương khô và gạo sấy trở thành nguồn sống chính giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.

3. Từ Thành Cổ đến lịch sử dân tộc

Sau 81 ngày đêm chiến đấu anh dũng, dù ta rút khỏi Thành Cổ ngày 16/9/1972, nhưng đã giữ được 85% diện tích tỉnh Quảng Trị, gây tổn thất nặng nề cho lực lượng chiến lược của địch. Cuộc chiến bảo vệ Thành Cổ đã góp phần quan trọng xoay chuyển cục diện chiến trường, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, hoàn thành nhiệm vụ chiến lược “đánh cho Mỹ cút”.

Rời Thành Cổ với thương tích nặng, ông Nguyễn Như Hoành trở về tuyến sau điều trị, rồi tiếp tục tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào và Campuchia đến năm 1980. Với những cống hiến bền bỉ và thầm lặng, người lính Thành Cổ năm xưa đã được trao tặng nhiều huân chương, huy chương cao quý, ghi nhận một đời chiến đấu vì Tổ quốc.

4. Thành Cổ – sống mãi với thời gian

Ngày nay, Thành Cổ Quảng Trị là Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, là nơi tưởng niệm hàng vạn anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc. Mỗi tấc đất nơi đây đều thấm đẫm máu xương của những người lính như ông Nguyễn Như Hoành – những con người bình dị nhưng phi thường.Thành Cổ không chỉ là nơi lưu giữ ký ức chiến tranh, mà còn là trường học lịch sử sống, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình và trách nhiệm gìn giữ những thành quả mà cha anh đã đánh đổi bằng cả tuổi trẻ và sinh mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn