THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ NĂM ẤY KHÔNG KHÁC GÌ NGHĨA TRANG KHÔNG BIA MỘ
BÙI THỊ MINH PHƯƠNG
Có những ngày lính phải chịu tới 80 trận oanh tạc của B-52 và pháo hạm. Pháo bắn chi chít đến mức đường 1 không xe nào dám đi, và mọi vị trí đều nằm trong tọa độ pháo của Mỹ và bọn tay sai.
Trong dòng chảy đỏ rực của mùa hè đỏ lửa năm 1972, Thành cổ Quảng Trị đã hiện ra như một túi bom, một chảo lửa khốc liệt nhất của cuộc chiến. Ở đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như một hơi thở, nơi mà mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu xương của hàng vạn người lính tuổi đôi mươi. Có những trận địa, sức hủy diệt của bom đạn đã vượt quá mọi giới hạn chịu đựng của con người: pháo nã liên tục suốt 4 tiếng đồng hồ, cày nát hai cây số vuông đường giao thông hào, khiến toàn bộ cây cối và hầm hào bị san phẳng hoàn toàn. Giữa bầu trời dày đặc các loại vũ khí và tiếng gầm rít của B - 52, người lính sống trong những hầm ngầm ngột ngạt, thiếu khí trời, thiếu nước uống, nhưng thừa cái chết luôn chực chờ xoáy sâu bên cạnh.
Trong cái địa ngục trần gian ấy, chân dung những người lính trẻ - những sinh viên vừa rời ghế nhà trường - hiện lên với một kỷ luật thép bao bọc lấy một tình thân nồng ấm. Trước giờ xung phong đánh bật kẻ địch tại bờ sông Thạch Hãn, người trung đội trưởng sinh viên mới 20 tuổi đã dằn mặt đồng đội bằng lời thề quyết tử: "Nếu đứa nào chần chừ, tao quay lại bắn trước", nhưng ngay sau đó là lời gửi gắm đầy máu thịt: "Nếu anh bị thương, chúng mày phải dứt khoát kéo được anh về". Đứng trước lằn ranh một mất một còn, nơi sự chần chừ đồng nghĩa với hy sinh, và nơi sống chết có nhau là lời thề thiêng liêng nhất để cùng nhau bám trụ từng mét chiến hào.
Hơn cả, đằng sau những lời thép súng ấy lại là những tâm hồn hết sức giản dị, đời thường và đầy lãng mạn của những lính lội mùa mưa. Họ là những chàng trai Hà Nội phải cắt trọc đầu vì dịch chấy rận lổm ngổm trong hầm, cơ thể đầy hắc lào, ghẻ lở vì sống như loài lưỡng cư dưới hầm hào ẩm ướt. Họ hái từng nhành rau má, rau chua me đất mọc quanh cửa hầm để cải thiện bữa ăn, hay bơi ra dòng Thạch Hãn để vớt những bao gạo trôi sông từ biển vào. Trong hầm tối, họ vẫn có thể cười đùa sau những trận oanh tạc, chia nhau từng mẩu lương khô hay mẩu thuốc lá sau một trận đánh thắng. Cái chất sinh viên vẫn không thể lẫn đi đâu được khi họ dùng cả cuốn logarit thập phân để tính toán phần tử bắn cho cối 160mm, dùng trí tuệ của những người tri thức để bắt quân thù phải trả giá.
Nhìn vào những gương mặt trẻ măng dừng lại mãi ở tuổi 20 ấy, ta không khỏi xót xa cho sự thiếu vắng của một thế hệ tinh hoa, những trụ cột tương lai của đất nước. Họ là sinh viên năm cuối của Đại học Bách khoa, là những bác sĩ tương lai của Đại học Y, là những tâm hồn văn chương của Đại học Tổng hợp… đã xếp bút nghiên để "sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau". Ai mà không tiếc tuổi đôi mươi với bao ước mơ và hoài bão, nhưng như một lẽ tự nhiên, nếu ai cũng tiếc tuổi xuân thì còn chi Tổ quốc? Họ ngã xuống, để lại những bức di thư đẫm nước mắt nhưng đầy bình thản, để tuổi hai mươi thành sóng nước vỗ yên bờ bãi Thạch Hãn ngàn năm.
Sự hy sinh của họ không chỉ là nỗi đau, mà là một bản tráng ca bi hùng, nhắc nhở chúng ta về cái giá của hòa bình hôm nay - một cái giá được kết tinh từ máu, nước mắt và cả một thế hệ tri thức đã hóa thân vào lòng đất mẹ.
“Nước chảy ngàn năm còn kể chuyện,
Trời xanh soi bóng những linh hồn.
Quảng Trị hóa thành trang sử đỏ,
Thạch Hãn ngân vang bản trường tồn.”



