“THÀNH ĐỔI THÀNH”
Nhân vật tôi tìm hiểu là ông Nguyễn Thái Lê, sinh năm 1952, hiện nay đang là cựu chiến binh. Trước đây ông từng là Thiếu tá, đồng thời là Chủ nhiệm Chính trị Ban Chỉ Huy Quân sự thành phố Đồng Hới. Tháng 5 năm 1970, ông nhập ngũ vào C300 Ban Chỉ Huy Quân sự thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị).
Ông tham gia chiến trường vào những năm đầu 70, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn căng thẳng và ác liệt nhất. Đây cũng là thời điểm quân Mỹ tăng cường ném bom và sử dụng hỏa lực đánh phá miền Trung, đặc biệt là hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị.
Một trong những câu chuyện mà tôi ấn tượng nhất là câu chuyện “Thành đổi Thành”. Ông Lê kể, sau 2 năm kể từ khi ông nhập ngũ, trải qua một quãng thời gian rèn luyện và chiến đấu, tháng 2/1972, ông được phong quân hàm Trung sĩ, giữ chức Phân đội trưởng Pháo cao xạ 12,7mm, trực tiếp đánh máy bay Mỹ tại thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
“Đó là thời điểm quân Mỹ thất thế tại Thành cổ Quảng Trị sau nhiều đợt phản công và tấn công nhằm chiếm lại khu vực này nhưng đều không đạt được mục tiêu. Trong bối cảnh đó, Tướng Mỹ William C. Westmoreland đã đưa ra một tuyên bố: ‘Thành đổi thành’- ý nói rằng nếu không tái chiếm được Thành cổ Quảng Trị thì sẽ chuyển sang đánh chiếm Thành cổ Đồng Hới.
Ngay lập tức, Đại đội C300 trực thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình được tăng cường lực lượng để bảo vệ Thành Đồng Hới, gồm năm trung đội: Trung đội 1, Trung đội 2, Trung đội 3, Trung đội 4 và Trung đội 5, kết hợp với Phân đội pháo cao xạ 12,7mm. Trong đó, nhiệm vụ chủ yếu của B1 (tức Trung đội 1) cùng Phân đội pháo 12,7mm là bảo vệ khu vực Nội thành Đồng Hới. Các trung đội B2, B3, B4 và B5 được bố trí triển khai tại các khu vực trọng điểm khác trong thị xã Đồng Hới.
Trung đoàn 1 do đồng chí Trần Văn Vương làm Trung đội trưởng, gồm có ba tiểu đội chốt giữ và án ngự: Tiểu đội 1 án ngự tại cửa Đông, Tiểu đội 2 án ngự tại cửa Nam, và Tiểu đội 3 án ngự tại cửa Bắc. Ngoài ra còn có một số tiểu đội súng cối 82mm được tăng cường thêm.” Kể đến đây, mắt ông ánh lên đầy sự tự hào, “Tôi lúc đó là Phân đội trưởng Pháo cao xạ 12,7mm, trực tiếp đánh chặn máy bay trinh sát của địch, đồng thời hỗ trợ bọc lót cho đồng đội.”
Khi được hỏi về công tác chuẩn bị, ông Nguyễn Thái Lê trả lời rằng, “Công tác chuẩn bị cho cuộc chiến này bao gồm việc xây dựng hầm trú ẩn và giao thông hào. Các tiểu đội 1, tiểu đội 2, tiểu đội 3 của B1 và một số quân nhân của B3, B4 đều cật lực làm việc xuyên ngày đêm nhằm xây dựng căn hầm chữ A dưới chân Thành cổ Đồng Hới, chuẩn bị sẵn sàng khi quân Mỹ và quân Ngụy đổ bộ vào đây. “Chúng tôi phải tận dụng tất cả những gì còn sót lại, bởi bom Mỹ đã đánh phá tan nát hết khu vực này. Không còn bất cứ thứ gì nữa. Chỉ còn lại những lẻ đòn tay, những khúc xà ngắn ngủi. Nhưng với bàn tay của người lính, chúng tôi đã xây được hầm, đào được giao thông hào, tạo thành một phòng tuyến vững chắc.”
Ông dừng một chút, rồi như nhớ đến điều gì, ông lại tiếp tục chia sẻ: “Trong thời điểm nguy cấp này, Mỹ vẫn ngày đêm đánh phá ác liệt, liên tục tăng cường hỏa lực và ném bom xuống Thành cổ Quảng Trị nhưng vẫn không đạt được mục đích. Sau đó, chúng bắt đầu tập kích pháo vào Thành Đồng Hới, sử dụng tàu chiến, tuần dương hạm và các loại pháo laser, pháo tầm xa như pháo 130mm, 122mm và 85mm để bắn phá dữ dội. Ngoài ra, địch còn tăng cường lực lượng biệt kích đổ bộ vào khu vực Hòn La (Đèo Ngang), nhưng đã bị du kích Đèo Ngang phối hợp với bộ đội địa phương và bộ đội biên phòng kịp thời đánh chặn và bắt giữ một số lính biệt kích. Kết quả, chúng tháo chạy ra biển.”
“Sau công tác chuẩn bị kỹ lưỡng, chúng tôi đã sẵn sàng chiến đấu, nhưng cuộc chiến ở Quảng Trị đã kết thúc vào tháng 4/1972. Mỹ phải buộc phải ký vào Hiệp định Paris và dừng hoàn toàn chiến tranh phá hoại Miền Bắc. Tuy nhiên, trước lúc dừng lại, chúng đã thả bom và đánh phá vào trung tâm thị xã Đồng Hới. Một loạt bom và pháo bao trùm cả bầu trời thành Đồng Hới, và có một quả trúng vào hầm nơi tiểu đội 2 đang trú ngụ.” Ông vừa nói vừa thở phào nhẹ nhõm, miệng nhoẻn nụ cười, “Mặc dù quả bom nằm đúng vào cửa hầm, thế nhưng may mắn là nó không hề phát nổ. Nhờ thế mà tất cả mọi người đều rút lui an toàn.”
Sau khi trận chiến ác liệt tại Thành cổ Quảng Trị khép lại, âm mưu tiếp tục phá hoại miền Bắc của Mỹ cũng buộc phải dừng bước. Cũng vì vậy mà Thành Đồng Hới vẫn được gìn giữ nguyên vẹn như một chứng tích kiên cường. Thế nhưng, bên cạnh niềm vui khi bảo vệ được thành, vẫn còn đó những khoảng lặng xót xa: sự mất mát và tiếc thương dành cho những người lính đã anh dũng ngã xuống để giữ vững Tổ quốc linh thiêng.
Sau khi nghe ông Nguyễn Thái Lê chia sẻ câu chuyện đầy cảm xúc này, tôi đã rất xúc động. Thông qua lời kể, cảnh tượng máu lửa ấy như đang diễn ra ngay trước mắt. Một cảm giác đau nhói khẽ thoáng qua nơi trái tim đang đập vội vã. Để từ đó, tôi đã nhận ra rằng, dù chiến tranh đã đi qua, nhưng nỗi đau mà nó để lại vẫn còn âm ỉ mãi trong trái tim người lính. Họ đã hy sinh tuổi trẻ, nước mắt, mồ hôi, xương máu để đổi lấy tự do, độc lập, thống nhất cho đất nước. Dù đó đã là câu chuyện của 10, 20, thậm chí 50 năm trước, họ – những người lính – vẫn có thể kể một cách rành mạch, rõ ràng như vậy càng chứng tỏ rằng: Thời gian chưa hẳn đã làm vơi đi những nỗi đau, những ký ức thời máu lửa, những khoảnh khắc giành giật mạng sống với Tử thần.
"Có những người lính nằm lại tuổi hai mươi, để chúng ta được sống trọn vẹn những tháng ngày mà họ không kịp đi hết."
Thật vậy. Đối với bản thân tôi, câu chuyện như một bài học lịch sử, đồng thời là lời nhắc nhở đối với thế hệ trẻ ngày hôm nay. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những mất mát và hy sinh mà thế hệ cha anh trải qua vẫn luôn là nỗi đau xót không bao giờ nguôi ngoai. Qua câu chuyện, mỗi người đều hiểu rõ rằng tự do, độc lập hay thậm chí là cuộc sống bình yên hiện tại không phải tự nhiên mà có được. Nó được đánh đổi bằng xương máu, tuổi trẻ và cả sinh mệnh của biết bao người lính. Điều đó không chỉ nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn, sự trân trọng hiện tại mà còn thôi thúc các bạn trẻ phải sống có trách nhiệm hơn, biết yêu nước bằng những việc làm nhỏ bé nhưng thiết thực, biết trân quý hiện tại và cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với những gì cha ông đã gửi gắm.
Tôi mong muốn chia sẻ câu chuyện này đến tất cả mọi người, đặc biệt là các bạn học sinh, sinh viên, nhằm giúp các bạn hiểu rõ hơn về sự tàn khốc của chiến tranh và những nỗi đau thầm lặng không thể nói bằng lời. Từ đó biết trân trọng hơn những gì mình đang có, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với những người lính đã ngã xuống, các bác cựu chiến binh đã hy sinh tuổi trẻ, mồ hôi, nước mắt trong quá khứ để chúng ta được cầm bút ngày hôm nay.


