THANH HOÁ - ĐỊA LINH NHÂN KIỆT, DỤC TÚ CHUNG LINH, ĐẤT THANG MỘC NHIỀU TRIỀU ĐẠI
Theo “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” có chép: Đời Hùng Vương xưa Thanh Hóa thuộc bộ Cửu Chân; nhà Tần thuộc Tượng Quận; nhà Hán là quận Cửu Chân; Ngô, Tần và Tống cũng theo tên cũ của Hán; Lương Võ đế đổi Cửu Chân làm Ái Châu; nhà Tùy lại gọi là Cửu Chân quận; nhà Đường chia đặt làm 2 quận: Ái Châu và Cửu Chân. Nhà Đinh và nhà Lê gọi Thanh Hóa là Ái Châu; nhà Lý đổi làm trại, năm Thiên Thành thứ hai(1029) đời vua Lý Thái Tông đổi làm Thanh Hoá phủ”.
Sử gia Phan Huy Chú nhận xét: “Thanh Hóa mạch núi cao vót, sông lớn lượn quanh, biển ở phía Đông... Núi sông rất đẹp, là một chỗ đất có cảnh đẹp ở nơi xung yếu... Vẻ non sông tốt tươi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ quý, cũng khác mọi nơi. Bởi đất thiêng thì người giỏi nên nảy ra những bậc phi thường, vượng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nước”.Năm Giáp Thân (864) quan Khâm thiên Giám báo cho vua Đường Ý Tông biết thế đất An Nam bao nhiêu vì sao tinh tú trên trời đều chầu về ắt có loạn, Đường Ý Tông lệnh cho Cao Biền sang làm An Nam đô hộ, kinh lược chiêu thảo sứ sau là An Nam Tiết độ sứ.Khi đi, vua Đường dặn riêng với Cao Biền đại khái rằng Trưng Nhị là hai người đàn bà mà làm rung chuyển cơ nghiệp nhà Đông Hán (25 – 220). Rồi đến Triệu Ẩu (cách người Trung Hoa gọi Bà Triệu) làm Đông Ngô thất điên bát đảo, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng... làm cho triều ta vất vả lắm mới dẹp được. Nay trẫm thấy linh khí An Nam quá thịnh e sau này có biến. Khanh đến đó, trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách trấn yểm linh khí An Nam và vẽ địa đồ về cho trẫm.Khi làm Tiết độ sứ An Nam Đô hộ phủ Cao Biền tìm mọi cách triệt hạ Long mạch nơi đây. Cao Biền nhận thấy hình thế đắc địa của vùng đất Thanh Hóa, lo sợ nơi đây sẽ xuất hiện những bậc đế vương làm thất bại tham vọng cai trị của nhà Đường nên đã trấn yểm, tìm mọi cách phá bỏ phong thủy xứ Thanh.Theo thuật phong thuỷ Hung địa là đất có thế “chu tước bi khốc” (chim cất tiếng kêu sầu), hoặc đất “bạch hổ hàm thi” (con hổ đang ngậm xác chết trong miệng), hoặc “xương long vô túc”(rồng không có chân, rồng bị tật nguyền)…Truyền thuyết kể, Biền thấy đất Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, sợ dân nơi đây bất khuất, khó lòng cai trị, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét và tìm cách trấn yểm các long mạch để phá vượng khí của người Nam. Một lần bay qua vùng núi Hàm Rồng - Thanh Hoá, nhìn thấy huyệt Hàm Rồng, Biền nói rằng địa thế này là hung địa “xương long vô túc” (rồng không chân)nên bỏ đi.Miệng nói vậy nhưng chính y lại âm thầm trở lại, mang theo hài cốt cha để táng vào mong sau này có thể phát đế vương. Sau nhiều lần táng mả cha vào, xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không kết phát. Cao Biền biết rằng đây là long mạch cực mạnh, cực quý thì lại càng ham thích, rắp tâm làm đến cùng. Biền bèn tán nhỏ xương vừa tung lên thì có muôn con chim nhỏ cùng bay đến, vỗ cánh quạt vù vù làm xương cốt bám trên vách đá bay tứ tán. Biền than rằng linh khí nước Nam quá mạnh, không thể cưỡng cầu. Quả nhiên không lâu sau, Biền bị triệu về nước rồi bị giết. Và sau này, đất Thanh Hoá là nơi phát khởi của nhiều vua chúa.Dãy núi Đông Sơn – Hàm Rồng bắt nguồn từ làng Dương Xá men theo sông Mã uốn lượn thành 99 ngọn núi đất, núi đá nhấp nhô như một bức tường thành hình con rồng đồ sộ. Phần cuối nhô lên một ngọn tựa hình đầu rồng nên gọi là Hàm Rồng (tên chữ Long Hạm). Ở đó có động Long Quang (mắt rồng). Thông ra phía sau động có một hang nhỏ là hang mắt Rồng. Trên vòm hang mắt Rồng có một lỗ ăn thông lên trên. Mỗi khi mưa, nước màu gạch cua chảy xuống, người xưa bảo đó là nước mắt rồng. Bên phải vòm hang có một mũi đá nhô ra gọi là đỉnh Long Tỵ (mũi rồng). Mạch đá ngoằn ngoèo chạy sát chân núi rồng rồi ăn ngầm xuống dòng sông Mã tới ngọn Châu Phong là bến Hàm Rồng. Từ đuôi Rồng đi lên, ngọn Ngũ Hoa Phong hình năm bông sen chụm chung một gốc cắm xuống đầm lầy. Ngọn Phù Thi Sơn trông giống một người phụ nữ đang nằm ngủ đầu gối vào thân rồng, núi mẹ, núi con tròn như quả trứng. Ngọn Tả Ao trông giống người đàn ông đang nằm vắt chân chữ ngũ, đầu quay về hướng Đông. Ở sát cạnh ngọn con Mèo đang trong tư thế rình mồi.Hơn 500 năm sau Cao Biền, giặc Minh xâm lược nước ta, một phong thủy sư nổi danh của Trung Quốc là Hoàng Phúc cũng sai người đục núi, lấp sông để hòng trấn yểm các huyệt mạch đế vương, hình thành một cuộc chiến phong thủy có một không hai trong lịch sử nước Việt.Hoàng Phúc xuất thân Tiến sĩ, mang chức Thượng Thư, giữ việc Bố chính và Án Sát trong chiến dịch cai trị đồng hoá người Việt. Trong 20 năm thuộc nhà Minh (vào khoảng 1407-1427), Hoàng Phúc bắt khắp nơi lập đền miếu thờ bách thần, thổ thần, sơn thần, thần sông, thần gió… bên cạnh văn miếu.Hoàng Phúc khi sang đất Việt đã mang theo cuốn “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” để làm bản đồ nghiên cứu địa hình, địa vật nước ta, tới những tới những linh địa mà Cao Biền ghi nhận xem xét và yểm nốt những đất kết lớn nào còn sót lại nhưng y cũng đã thất bại.Bình luận về việc này, sử thần Ngô Sĩ Liên viết trong “Đại Việt sử ký toàn thư”: “Từ khi có trời đất này, thì đã có núi sông này, mà khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời, đều có số cả. Khí trời từ Bắc chuyển xuống Nam, hết Nam rồi lại quay về Bắc. Thánh nhân trăm năm mới sinh, đủ số lại trở lại từ đầu. Thời vận có lúc chậm lúc chóng, có khi thưa khi mau mà không đều, đại lược là thế, có can gì đến núi sông? Nếu bảo núi sông có thể lấy pháp thuật mà trấn áp, thì khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời có pháp thuật gì trấn áp được không?”.Sau 10 năm kháng chiến chống Minh thắng lợi, Thanh Hoá trở thành đất thang mộc của của nhà Hậu Lê. Theo sách "Lam Sơn thực lục", vua Lê Lợi khi chưa nên nghiệp đế có lần ở quê hương có duyên gặp nhà sư già họ Trịnh. Nhà vua thấy ông sư than rằng “quý hóa thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn!” Vua lấy làm lạ nên bèn đi theo hỏi rằng: “Miền đất của đệ tử tôi sang hèn thế nào xin sư chỉ bảo giùm”. Nhà sư nói: “Xứ Phật hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh; bên trong có đồi Bạn Tiên. Lấy Thiên Sơn làm án, Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc. Phía hữu nước vòng quanh tay hổ. Bên ngoài núi xâu chuỗi hạt trai. Con trai sang không thể nói hết được. Nhưng con gái phiền có chuyện thất tiết. Tôi sợ con cháu về sau có thế phân cư. Ngôi vua có lúc trung hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết láng lại, thì trung hưng được 500 năm. Sau khi nghe nhà sư nói vậy, Lê Lợi bèn đem hài cốt của cha mình táng vào chỗ ấy. Lịch sử sau này cho thấy rõ là triều Hậu Lê từ năm 1428 khi vua Lê Lợi lên ngôi đến năm 1527 khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi là được tròn 100 năm. Sau đó nhờ công thần Nguyễn Kim phù trợ nên lại được trung hưng. Điều đó là ứng vào câu “ngôi vua có lúc trung hưng”. Như vậy vua Lê Lợi đã biết từ đầu rằng long mạch nhà mình như vậy thì triều đại của dòng họ mình sẽ có lúc sóng gió giữa chừng. Tuy vậy nhà vua cũng không thể nào thay đổi được điều đó. Âu đó cũng là do cơ trời đã định vậy.Theo gia phả họ Trịnh việc Trịnh Kiểm lập nhà chúa đã được tiên đoán từ 4 đời trước của Trịnh Kiểm là Trịnh Liễu quê ở Vĩnh Lộc, Thanh Hoá ngày nay. Gia tư Trịnh Liễu nghèo đói, làm ruộng và bán nước chè kiếm sống nhưng rất ham đọc sách. Một hôm, Trịnh Liễu đi cày ở xứ đồng trong núi, đến chỗ vực tôm, thấy một ông già hơn 90 tuổi, sắc mặt sáng tươi, thần thế thanh tú. Ông già hỏi Trịnh Liễu: “Ông ở đâu? Họ gì? Cày ruộng chăn trâu ở núi mà lại siêng học hành thế nhỉ!”. Trịnh Liễu đáp: “Tôi quán ở Sóc Sơn, Vĩnh Lộc. Từ nhỏ mồ côi, nghèo đói, vốn thích sách vở”.Hai người đàm đạo không hay mặt trời đã gác núi. Trịnh Liễu mời ông già về nhà nghỉ lại một đêm. Đến nhà, thấy mấy gian lợp lá và một cái chõng tre. Trịnh Liễu một mực mời lên giường ngồi, kính cẩn mời cơm nhạt. Ông già khen Trịnh Liễu có đức, nói: “Lão đây vốn sành phong thuỷ, thấy trong đất sách này, chỗ Nanh Lợn có một huyệt có khí quý. Táng đó thì 4 đời sau phát vương”.Trịnh Liễu theo lời đem hài cốt cha mẹ nhờ ông già lập hướng mà táng. Táng xong ra về. Đêm ấy, trời đất chuyển động mây mưa, gió thổi đùng đùng. Ông già hỏi Trịnh Liễu: “Ông có dám đi thăm huyệt không?” Trịnh Liễu đáp có, rồi cắp dao đi thẳng đến huyệt mộ mới táng ban ngày.Trịnh Liễu hết sức ngạc nhiên và sợ hãi khi thấy bốn bề đen tối, mưa gió ầm ầm nhưng trong mộ sáng như có ánh trăng. Xa trông thấy con rồng đen nằm ấp lên trên. Trịnh Liễu sợ chạy một mạch về. Ông già nói: “Rồng vàng là đế, rồng đen là vương. Nhà ông tích lại âm công. Trời giáng phúc cho đó”. Ngày hôm sau, Trịnh Liễu ra thăm mộ vẫn còn thấy dấu rồng nằm, cây cỏ chung quanh gẫy rạp đến một mẫu.Trịnh Liễu cảm kích, bán hết ruộng vườn được 73 quan tiền biếu ông già. Ông già còn chỉ cho đất làm nhà tốt ở Biện Thượng, nói xong bèn lên đường. Trịnh Liễu cùng người nhà đưa chân ông già đến chỗ Cổ Dải, thuộc huyện Tống Sơn (huyện Hà Trung ngày nay) thì thình lình mưa gió ào tới, sương mù xuống ào ạt mờ mịt cả một vùng. Chỉ một lúc sau, trời quang mây tạnh, ông già biến mất theo đám sương khói, tiền vẫn còn nguyên vẹn. Lúc ấy, Trịnh Liễu mới biết ông già chính là thần tiên hiện ra, đặc biệt đến dâng phúc. Bởi thế về sau nơi này Chúa Trịnh cho lập đền thờ, truy phong tôn hiệu là Tống Thiên Vương.Trịnh Liễu về dựng nhà ở Biện Thượng (nay thuộc xã Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá). Sau đó, Trịnh Liễu đi thi đỗ tam trường. Con trai Trịnh Liễu là Trịnh Lan, con của Trịnh Lan là Trịnh Lân lấy vợ Hoàng Thị Dốc ở thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện An Định nay là Thôn Hổ, xã Định Hưng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Bà Hoàng Thị Dốc chính là người sinh hạ Thái tổ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm ngày 24 tháng 8 năm Quý Hợi, tức năm 1503 - niên hiệu Cảnh Thống nhà Lê. Như vậy, từ Trịnh Liễu đến Trịnh Kiểm đúng 4 đời y như tiên đoán của vị thần tiên năm nào.Trong các đền thờ họ Trịnh thường dùng hình tượng chim vẹt làm vật thờ. Các đòn khiêng kiệu của chúa Trịnh cũng thấy khắc hình chim vẹt. Việc nhà Trịnh lấy chim vẹt làm linh vật bắt nguồn từ một truyền thuyết không kém phần ly kỳ. Theo gia phả tộc Trịnh, Trịnh Kiểm đến năm 17 tuổi thì hùng dũng hơn người, trí lực khác thường. Lúc bấy giờ, trong khoảng niên hiệu Thống Nguyên, vào năm Đinh Hợi, Mạc Đăng Dung đã tiếm ngôi vua Lê. Bề tôi nhà Lê là Nguyễn Kim ở huyện Tống Sơn, trang Gia Miêu Ngoại (Hà Trung hiện nay) ngầm rút về Cổ Lũng, huyện Cẩm Thuỷ tập hợp quân để đánh Mạc.Tướng quân nhà Mạc là Ninh Bang hầu tiến quân về đóng ở huyện Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc ngày nay). Mẹ Trịnh Kiểm là bà Hoàng Thị Dốc đã đem con đến xin Ninh Bang hầu cho Trịnh Kiểm làm gia thần. Ninh Bang hầu mừng vui thu nhận. Ninh Bang hầu cho Trịnh Kiểm trông coi trại ruộng ở sách Thọ Liêu. Trịnh Kiểm nuôi trâu ngựa. Hằng ngày, ông được người bạn gốc Chăm là Vũ Thì An dạy cho cách huấn luyện ngựa, có thể biết được ngựa hay.Một thời gian sau, Trịnh Kiểm ăn cắp con ngựa tốt nhất chạy sang Cổ Lũng, huyện Cẩm Thuỷ theo anh họ là Trịnh Quang, lúc đó đã theo Nguyễn Kim. Ninh Bang hầu biết tin Trịnh Kiểm ăn cắp ngựa của mình, bỏ đi nhiều ngày không về, nên rất tức giận bèn sai quân lính, dân các xã Sóc Sơn, Biện Thượng lùng bắt mẹ con Trịnh Kiểm.Xã trưởng xã Biện Thượng tìm thấy mẹ con Trịnh Kiểm đang nấp sau nhà không những không bắt mà còn ra hiệu bằng cách ném đất và nháy mắt cho Trịnh Kiểm chui qua mấy tầng rào chạy trốn đến nhà người tên Nữu ở Yên Định. Người này đã bới đống thóc trong bồ lớn, cho Trịnh Kiểm chui vào đó rồi lấp lúa lại. Ninh Bang hầu tìm không thấy tung tích của Trịnh Kiểm nên tức tối bắt mẹ ông là bà Hoàng Thị Dốc giam lại. Ba ngày sau, Ninh Bang hầu bắt xã Sóc Sơn đem lồng tre nhốt mẹ Trịnh Kiểm, kèm tảng đá lớn bỏ vào trong rồi ném xuống sông.Bạn thân Trịnh Kiểm là Vũ Thì An sai con là Vũ Đình Tùng chạy đến mật báo cho Trịnh Kiểm biết. Nghe xong câu chuyện, Kiểm khóc sướt mướt mà than: “Người làng ta sao mà nhẫn tâm phụ bạc với ta như vậy. Ngày sau, nếu ta sáng nghiệp lớn, thề không về làng cũ nữa”. Quả vậy, sau này thành Chúa, Trịnh Kiểm chỉ xây dựng cung điện, miếu thờ ở Biện Thượng và quê mẹ bên Yên Định chứ không làm ở Sóc Sơn - Vĩnh Lộc.Lại nói, dù rọ đã bỏ đá vào trong nhưng xác thân mẫu Trịnh Kiểm không chìm mà cứ nổi lên. Xác trôi dọc sông, bên trên, đàn vẹt đến hàng trăm con tập hợp lại như đám mây lượn quanh, bảo vệ, che chở cho thân xác bà. Xác trôi đến xứ Quai Vạc, có người chài lưới ở làng Đông Biện tên là An Dũng sáng sớm thấy thây nổi gần bờ mới về báo cho người làng đem cuốc xẻng ra an táng. Dân làng khi ra đến chỗ ấy thì vừa đúng giờ Ngọ, thình lình thấy mối đùn ra tận dòng sông, lấp kín thân xác thành ngôi mộ lớn. Lạ hơn, phía trên ngôi mộ có một đàn vẹt đông đảo bay kín như một đám mây. Đàn vẹt ở đó rất lâu rồi bay đi.Tin đồn lan nhanh, một vài thầy địa lý đã tìm đến tận nơi xem xét địa thế của gò đất rồi đoán định rằng con cháu họ Trịnh từ đây sẽ bắt đầu phát đạt lớn.Câu tiên tri: “Phi đế phi bá, quyền khuynh thiên hạ, tộ truyền bát đại, tiêu tường khởi họa” bắt đầu lan trong thiên hạ. Câu ấy có nghĩa là: họ Trịnh tuy không phải là “đế”, cũng không phải là “bá” (phi đế phi bá), nhưng quyền thế sẽ rất lớn làm nghiêng cả thiên hạ (quyền khuynh thiên hạ) và sẽ truyền đến đời thứ 8 (bát đại) thì cạn phước và họa sẽ từ trong nhà khởi ra.Nguyễn Kim vốn là Điện tiền tướng quân của nhà Lê đã thu nạp, trọng dụng Trịnh Kiểm và đem con gái của mình là Nguyễn Thị Ngọc Bảo gả cho. Cuộc hôn nhân này là bệ phóng đưa Trịnh Kiểm lên đỉnh cao quyền lực. Vì khi Nguyễn Kim mất (bị hàng tướng nhà Mạc đầu độc), toàn bộ binh quyền chuyển qua tay Trịnh Kiểm.Trịnh Kiểm năm ấy 42 tuổi, quyền uy rất lớn, lập hành điện ở Thanh Hóa cho vua Lê ở, chiêu tập hào kiệt làm chủ giang sơn phía Nam từ Thanh Hóa trở vào (gọi Nam triều) để chống lại nhà Mạc bấy giờ vốn đang làm chủ vùng đất từ Sơn Nam trở ra (gọi Bắc triều). Khi cuộc chiến Nam – Bắc triều còn đang tiếp diễn thì vua Lê Trang Tông mất, vua Trung Tông lên thay được 8 năm cũng mất, chưa có ai kế vị.Trong tình cảnh ấy, Trịnh Kiểm có ý muốn xưng làm vua nhưng còn lưỡng lự chưa dám, mới sai sứ giả bí mật ra Vĩnh Bảo xin ý kiến cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trình lặng im một lúc không nói gì, rồi đột nhiên gọi người giúp việc trong nhà ra lớn tiếng bảo rằng “năm nay mất mùa, thóc giống không được tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo”; xong lại sang bên chùa bảo mấy chú tiểu là “hãy giữ chùa thờ Phật thì sẽ được ăn oản”.Hai câu nói ấy hàm ý rằng: hãy tìm con cháu vua Lê (tìm giống cũ) và hãy giữ ngôi nhà Lê (giữ chùa thờ Phật) sẽ được mưa móc, ngọt ngào (ăn oản). Trịnh Kiểm hiểu ý Trạng Trình, mới đi tìm cháu ruột của Lê Lợi là Lê Duy Bang đưa lên ngôi, còn mình vẫn giữ vị trí làm chúa, song thực quyền vẫn nằm hết trong tay.Họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng lên, rồi giữ lấy quyền chính, lập ra nghiệp chúa, lưu truyền từ Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) đến Trịnh Khải được 216 năm (1570 – 1786) là hết. Mầm mống suy tàn bắt nguồn từ đời thứ 8 là Trịnh Sâm với sai lầm lớn của ông. Ông đã phế con trưởng (là Trịnh Khải) để lập con thứ (Trịnh Cán) do ái phi của ông là Đặng Thị Huệ sinh ra làm thế tử, gây bất bình, khiến kiêu binh nổi dậy phế bỏ Trịnh Cán đưa Trịnh Khải lên.Nhưng Trịnh Khải lên chưa bao lâu thì quân Tây Sơn từ phía Nam tấn công ra Thăng Long. Mặc dầu Trịnh Khải rất dũng cảm, lên voi chiến xông trận nhưng thất thế phải chạy lánh lên Sơn Tây rồi dùng gươm tự sát. Hay tin đó, Nguyễn Huệ lệnh quân Tây Sơn tống táng Trịnh Khải đúng theo vương lễ.Trịnh Khải mất, Trịnh Bồng kế nghiệp chúa nhưng đã bỏ đi tu trong những ngôi chùa hẻo lánh trên vùng núi phía Bắc (người ta cho Hải Đạt thiền sư chính là Trịnh Bồng), tương truyền đã để lại mấy câu: “Hai trăm năm đó đủ điều. Cơ đồ tựa tiếng chuông chiều vừa tan…”Về phong thủy, ngôi mộ của mẹ Trịnh Kiểm ở giữa dòng sông. Ba phía có các núi gồm Thổ Tượng, Hắc Khuyển, Ðốn Sơn nối nhau như rồng lượn. Phía bên kia, sông Mã nước trong như ngọc lượn lờ giữa khoảng ruộng đồng xanh ngát. Dòng sông Bưởi từ phía đông nhập vào chẳng khác đuôi rồng đang vẫy. Thế đất này đẹp và rất lạ vì mang hai thế phong thủy là thế “lưỡng long tranh châu” và “thanh long hý thủy”. Biện Thượng nằm trên vùng đất nguyên là một nhánh của dãy Trường Sơn đâm ngang ra biển, giáp giới hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình. Làng Gia Miêu - quê hương phát tích của nhà Nguyễn cũng ở phía Nam của dãy núi. Chốn cũ của họ Trịnh cũng chung mạch, được núi non, sông nước bao quanh, che chở, giữ cho lộc trời bền lâu.Cuối năm Kỷ Tỵ 1569, Trịnh Kiểm gần 70 tuổi. Có điềm bất thường lại xảy ra tại huyện Vĩnh Lộc. Vào một đêm trăng giá buốt, một ngôi sao băng dài vài chục trượng đã sa xuống đất, phát tiếng nổ lớn làm mọi người kinh hoàng. Sau đó, Trịnh Kiểm qua đời, mộ phần được đặt cạnh mộ phần mẫu thân.



