Thành ủy Hà Nội dưới làn bom hủy diệt của Mỹ
Căn hầm kiên cố ở 62 Trần Quốc Toản là bản doanh của Thành ủy Hà Nội trong 12 ngày đêm tháng 12-1972. Ông Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư Thành ủy, kể lại hai việc khó nhất khi ấy: công tác tư tưởng và việc đưa 50 vạn dân nội thành đi sơ tán.

Giữa nội thành, trên con phố Trần Quốc Toản yên tĩnh, có một căn hầm kiên cố là bản doanh của Thành ủy Hà Nội trong 12 ngày đêm lịch sử. Nhắc đến căn hầm này, ông Nguyễn Văn Trân, 97 tuổi, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội thời kỳ ấy - vẫn nhớ vanh vách tên các đồng chí: Trần Sâm, Trần Vỹ, Đức Lạc, Vũ Định trong Thường vụ, rồi cô Tuyết ở Tổ thư ký…
Khi nói chuyện với chúng tôi, ông nhớ lại: “Trong 12 ngày đêm lịch sử, tôi và Thường vụ vẫn làm việc bình thường ở khu nhà phía ngoài và căn nhà trên nóc hầm, lúc có báo động mới xuống hầm. Ban ngày làm việc và đi đôn đốc cơ sở, mình phải tới tận nơi xem dân sơ tán thế nào, trận địa trực chiến của dân quân tự vệ ra sao. Tối đến, chúng tôi lại xuống trực dưới hầm. Tổng đài Thành ủy có đường dây riêng nối với Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân và khi máy bay địch sắp đến là tổ chức nổi còi báo động toàn thành phố...”.
- Ở dưới căn hầm này, diễn ra bao nhiêu cuộc họp bất thường, bao nhiêu cuộc họp chỉ đạo, bác nhớ nhất điều gì?
- Đó là công tác tư tưởng và công tác phòng không sơ tán, hai công việc khó nhất, phức tạp nhất.
Kho “lưu trữ” ký ức của ông Trân cứ mở từng trang, từng sự kiện như thế.
Ngày 16-4-1972, máy bay Mỹ đánh phá Hải Phòng và ném bom kho xăng Đức Giang - Hà Nội, Thành ủy họp bất thường, yêu cầu đảng ủy và chính quyền các cấp làm gấp công tác sơ tán. Trong 4 ngày, thành phố đã đưa 26 vạn dân ra khỏi nội thành. Nhưng tâm lý bám trụ, ở lại sống và chiến đấu trong nội thành đã ăn sâu trong tư tưởng người dân nên việc vận động bà con sơ tán, trở về thôn quê khá khó khăn. Để giữ an toàn tính mạng cho dân, các hầm hố cá nhân xuất hiện dày đặc khắp đường phố, các khu tập thể, xí nghiệp, hợp tác xã. Máy bay Mỹ đến thì xuống hầm, chúng đi lại tiếp tục sinh hoạt, sản xuất. Dân Hà Nội đã quen với nhịp sống thời chiến từ những năm 1966-1967 nên họ không muốn rời ngôi nhà, đường phố thân thuộc của mình, chưa kể khi nghe nói trong tháng 10 “phía Mỹ đã ký tắt Hiệp định, chấm dứt ném bom miền Bắc”, không ít các gia đình từng sơ tán từ mấy tháng trước đó lại dắt díu, bồng bế nhau trở về nội thành. Lúc phía Mỹ lật lọng, muốn đàm phán trên thế mạnh quân sự, hủy diệt Hà Nội, số dân ở lại nội thành vẫn còn nhiều, điều đó làm ông Trân và các đồng chí trong Ban Thường vụ theo dõi tình hình mà như ngồi trên đống lửa.
Sau đêm 23-12-1972, Thường vụ Thành ủy yêu cầu Hội đồng Phòng không các khu phố và khu đội kiên quyết bắt dân đi sơ tán, chỉ để lại 10.000 tay súng dân quân tự vệ. Các khu vực ngoại thành có trận địa tên lửa, có các chân hàng hóa để từ đây chi viện vào chiến trường miền Nam như Uy Nỗ, Thụy Phương, Mễ Trì, Giáp Bát, Văn Điển, Phù Lỗ… cũng phải sơ tán dân như nội thành. Đến 28-12, tổng số dân đi sơ tán lên tới 50 vạn.
“Công tác tư tưởng động viên toàn đảng bộ, quân và dân Thủ đô quyết thắng giặc Mỹ thường dễ hơn nhiều so với công tác vận động dân đi sơ tán, nhưng tính mạng người dân thì không thể lơ là, vì thế hôm nào Thường vụ cũng phải nắm con số cụ thể, dân sơ tán bao nhiêu? Địch đánh ở đâu? Cứ ngớt tiếng bom là chúng tôi đến ngay để thăm hỏi, động viên bà con”, ông Trân nhớ lại.
Từ bản doanh ở 62 Trần Quốc Toản, mọi chủ trương, mệnh lệnh, thông tin đã được phát đi kịp thời, trở thành mệnh lệnh chiến đấu của các cấp ủy và toàn Đảng bộ, quân - dân Hà Nội. Do đó, thành phố đã có sự hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội chủ lực làm tốt công tác chiến đấu và phục vụ chiến đấu… Căn hầm kiên cố ngày ấy đã trở thành di tích cách mạng, ghi dấu một thời oai hùng của Hà Nội. Những năm tới đây, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch thành phố nên coi đó là một điểm tham quan nhằm góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ.
PHẠM KIM THANH



