Thập kỷ quân ngũ vào sinh ra tử: Từ tuyến lửa miền Nam đến phên dậu biên cương phía Bắc
Hành trình một thập kỷ (1971–1981) kiên định và thầm lặng của Thượng úy Phan Thế Yến, người Trợ lý Quân lực mẫn cán thuộc Sư đoàn 345, Quân đoàn 29, người đã gửi lại một phần xương máu nơi chiến trường để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng.
Thập kỷ quân ngũ vào sinh ra tử: Từ tuyến lửa miền Nam đến phên dậu biên cương phía Bắc.
Những câu chuyện quân ngũ của cựu chiến binh Phan Thế Yến (sinh năm 1954, quê quán tại Tuân Chính, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) không mang dáng dấp của những lời đao to búa lớn, mà thấm đẫm chiều sâu của một người lính đã trải qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Lên đường nhập ngũ vào những ngày mùa đông lạnh giá ngày 28 tháng 12 năm 1971, khi mới 17 tuổi, chàng trai đất lúa Vĩnh Tường đã đem trọn vẹn những năm tháng thanh xuân rực rỡ nhất hiến dâng cho màu xanh áo lính suốt một thập kỷ trường kỳ (1971–1981).
Giai đoạn đầu quân ngũ, ông được lệnh hành quân vào chiến trường B – miền Nam ruột thịt, đối diện trực tiếp với những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhưng bản hùng ca đời lính của ông không dừng lại ở ngày đại thắng mùa xuân 1975. Khi giặc thù lại rắp tâm xâm phạm dải đất biên cương phía Bắc của Tổ quốc, đồng chí Phan Thế Yến tiếp tục khoác ba lô lên đường, có mặt trong đội hình chiến đấu của Sư đoàn 345 – đơn vị chủ lực kiên cường thuộc Quân đoàn 29 chốt giữ địa bàn Hoàng Liên Sơn đầy hiểm trở và khốc liệt trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.
Tại chiến trường biên cương, trên cương vị là một sĩ quan mang cấp bậc Thượng úy, giữ trọng trách Trợ lý Quân lực của đơn vị, nhiệm vụ của ông mang tính chất huyết mạch sống còn đối với sức chiến đấu của bộ đội. Trong những ngày cao điểm của cuộc chiến, khi đạn pháo đối phương cày xới nát từng mỏm đồi biên giới, người Trợ lý Quân lực không chỉ giữ vững bản lĩnh ngoài chiến hào mà còn phải giữ cho cái đầu luôn lạnh và sự minh mẫn tuyệt đối trong công sự ngầm. Công tác quân lực đòi hỏi tính chính xác đến từng chi tiết: nắm chắc biến động quân số từng giờ sau mỗi đợt pháo kích, kịp thời đề xuất phương án điều động hỏa lực chi viện, tổ chức bổ sung quân số kịp thời để giữ vững trận địa chốt, phối hợp chuyển thương binh về tuyến sau và ghi chép cẩn trọng từng thông tin về những đồng đội đã ngã xuống. Đó là một áp lực khủng khiếp đè nặng lên đôi vai của người sĩ quan tham mưu tác chiến.
Sau mười năm liên tục cống hiến cho Quân đội, ông xuất ngũ vào tháng 1 năm 1981 với tỷ lệ thương tật của bệnh binh hạng 2, mang theo trên thân thể những di chứng nặng nề của chiến tranh. Ba tấm Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba cùng ngày vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam (17/1/1986) là sự ghi nhận xứng đáng cho một đời lính thanh bạch và quả cảm. Cuộc đời ông là biểu tượng sáng ngời của thế hệ thanh niên sẵn sàng hy sinh cả tuổi trẻ và sức khỏe của mình, giữ vững ngọn cờ độc lập nơi hai đầu tuyến lửa của dân tộc.



