Tháp Mười
Địa danh Tháp Mười xuất phát từ phế tích trên một gò lớn (nay thuộc ấp 1, x.Tân Kiều, H.TM), vùng đất có người Khmer bản địa cư trú, nên đây là ngôi tháp đổ nát thuộc văn hóa Angkor hoặc thuộc nền văn minh xưa hơn nữa là Phù Nam - Óc Eo.
Theo Vương Hồng Sến thì trong khi người Khmer gọi là Tháp Năm Mặt (Préam Loveng) thì người Việt gọi là Tháp Mười. Châu bản triều Nguyễn (CB số 287, tờ 1 đến tờ 3) ngày 01 tháng 3 năm Tự Đức thứ XVIII (tức ngày 27/3/1865), có đoạn: “Tên Quản Lã đã đánh giết bốn người Tây, bắt sống một [...] đã giải đến Văng Tháp (往塔) nộp cho Thiên hộ Dương”. Cũng trong châu bản này, từ tờ 143 đến tờ 145, ngày 07 tháng 6 năm Tự Đức thứ XIX (tức ngày 18/7/1866), lại viết: “Trước đây, tên phạm đó (tức Thiên hộ Dương) ẩn náu ở Tháp Tháp (塔塔), nơi tiếp cận với ranh giới tỉnh Vĩnh Long, chỉ có nơi đó mới được nghiêm ngặt phòng triệt”. Trong hai báo cáo của Thiên hộ Võ Duy Dương gửi cho vua Tự Đức vào năm 1865, 1866, bị quân Pháp tịch thu vào tháng 4/1866, được Gustave Janneau dịch và công bố trên Revue Indochinoise, số 2, năm 1914, dưới nhan đề “Deux rapports militaires du Général VO DI DUONG”, tên Tháp Mười, viết bằng quốc ngữ, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Điều đó cho thấy tên Vàng Tháp chỉ được gọi vào năm 1865, đến năm 1866 tên Tháp Mười (Tháp Thập) mới xuất hiện lần đầu tiên trong văn bản chính thức của nhà nước lúc ấy. Còn từ tố "Mười" trong Tháp Mười còn nhiều đoán định khác nhau: tháp mười mươi, tháp có mười tầng hoặc mười cái tháp...
Thuyết tháp Mười tầng chỉ xuất hiện sau khi Ngô Đình Diệm cho xây trên nền tháp cũ một ngôi tháp mười tầng, cao 42m, theo kiểu tháp chùa Thiên mụ (Huế), dùng làm "viễn vọng đài" quan sát hoạt động cách mạng trong vùng, bị quân giải phóng đánh sập năm 1959, là không thuyết phục, vì tên Tháp mười này đã dùng để gọi tháp mới xây. Thuyết thứ hai là trên gò có nhiều tháp, gọi là Tháp Mười để chỉ số tháp trên gò.
Thuyết thứ ba, trong lịch sử Chân Lạp ghi lại nhiều công lao của vua Jayavarman VII, trong đó có công xây một hệ thống bệnh viện với chùa và tháp thờ thần trị bệnh Lokecvara, tháp tại gò này là tháp thứ mười. Song, bia đá khắc chữ Phạn nơi đây là tháp thứ mười mà Parmentier đã đọc, hiện nay không tìm thấy và nội dung bia cũng chưa được kiểm chứng.
Khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (bằng hoà ước 1862), họ đặt cho vùng này một cái tên bằng tiếng Pháp "Plaine inondée couverte d'herbe", sau rút gọn lại là "Plaine des joncs", tức "đồng cỏ lác", "đồng có bàng". Có thể nói, nếu Võ Duy Dương không chọn gò Tháp Mười làm căn cứ, thì liệu cánh đồng rộng lớn này ngày nay có mang tên Đồng Tháp Mười không? Sau khi về lập căn cứ ở đây, đến năm 1865, nghĩa quân Võ Duy Dương bắt đầu chủ động tấn công giặc Pháp, buộc Pháp và cả triều đình Huế phải chú ý đến vùng sình lầy này. Bắt đầu từ đây và nhất là khi quân Pháp triệt hạ căn cứ Tháp Mười vào tháng 4/1866, Tháp Mười trở thành địa danh nổi tiếng, thường xuyên xuất hiện trên các văn bản hành chính, ngoại giao của triều đình Huế, thực dân Pháp và báo chí của Pháp. Nên không lấy làm lạ khi thấy tên đất "Tháp Mười" luôn gắn liền với tên người "Thiên hộ Dương", trong lịch sử cũng như trong tâm tâm của người Nam bộ, mà nhứt là Đồng Tháp.
Qua thời gian, Tháp Mười trở thành tên gọi cho cả một vùng rộng lớn: Đồng Tháp Mười, thay thế đồng cỏ lác (plaine des joncs) do thực dân Pháp áp đặt. Đến đây chữ đồng, danh từ chung, trở thành một thành tố của địa danh Đồng Tháp Mười, nên chữ Đồng viết hoa.
Tóm lại, địa danh Đồng Tháp Mười được hình thành vào khoảng đầu của thế kỷ XIX và đã nhanh chóng trở thành một trong những địa danh nổi tiếng trong phạm vi cả nước, mang nhiều ý nghĩa quan trọng về địa lý và lịch sử.



