Thầy giáo Nguyễn Tất Thành thời niên thiếu
Trích tại tác phẩm Búp sen xanh ( Sơn Tùng )
Một ngày chủ nhật.
Nước thủy triều ròng kiệt. Cửa bể Phan Thiết trải một màu nâu bầm. Bãi biển lùi rộng ra xa. Từng đàn chim biển lên phơi nắng, xòe những đôi cánh trắng phau giữa thềm cát mịn màng. Những con còng, dã tràng lên dày như mắt sàng.
Thầy giáo Nguyễn Tất Thành đưa học trò đi chơi biển, học tập ngoài trời. Thầy mặc áo sơ-mi cọc tay, quần soóc đều màu trắng, đội mũ cốt bần lớp vải quét phấn trắng, chân đi giày băng-túp. Đám học trò con trai cùng mặc đồng phục như thầy giáo. Hai cô nữ sinh mặc áo dài màu trắng...
Ra khỏi phố, thầy trò leo lên những đụn cát. Trèo lên được hai ba bước lại tuột xuống một bước. Nhiều em lên được ngọn động, níu tay nhau ngồi bệt xuống, cát chuồi tuột xuống chân dốc, các em cười khoái chí. Hai cô nữ sinh thì mải mê tìm các vỏ sò vỏ ốc có hình thù và màu sắc vân dạng kỳ thú...
Thầy Thành bâng khuâng nhìn, biển nước ròng, bờ xa nắng trải những cồn cát, nương dâu liền một dải chân trời. Thầy cảm nhận những cánh buồm mọc thẳng trên nền biển xanh có sức kêu gọi con người đứng dậy mà đi tới. Thầy gọi học trò đến ngồi xung quanh trên đụn cát có bóng cây cổ thụ. Thầy hỏi:
– Các trò có biết tại sao người dân chài lại trồng các loại cây cao to, có rễ sâu, tán rộng trên bờ biển không?
– Thưa thầy, để có bóng mát họ ngồi chơi như thầy trò ta đang ngồi ạ. Một em khác nói:
– Họ trồng cây to trước cửa bể để lấy gỗ đóng thuyền, làm chèo, làm lái ạ...
Thầy Thành cười. Các em nhìn nhau cười khúc khích. Thầy ôn tồn nói:
– Các trò nói có phần đúng. Nhưng các trò phải hiểu là loại gỗ dùng đóng thuyền, làm chèo, làm lái phải là loại gỗ ít ngấm nước,
nhẹ mà dẻo mới được. Còn những cây người ta trồng trước cửa bể là cốt để làm "cột tiêu" cho thuyền bè lúc trở về bến.
Thầy chỉ tay ra phía xa khơi:
– Các trò có thích những cánh buồm đi khơi kia không?
Trò Nguyễn Thành Tây vẻ nghịch ngợm:
– Thưa thầy, nhường hai bạn "quần thoa" vốn có nhiều cao kiến nói về cảm tưởng cánh buồm trên biển ạ.
Hai cô nữ sinh mặt đỏ dừ, tay cầm con ốc chông vẽ vẽ trên cát. Đám con trai cười, nháy nháy mắt nhau. Thầy Thành gõ gõ lên đầu em Tây:
– Lại trêu chọc bạn, thầy sẽ phạt ngồi nhà như lần đi chơi núi mới rồi đó nghe.
Nguyễn Thành Tây cười tùm tím. Cả đám học trò đua nhau nói những cảm nghĩ của mình về cánh buồm trên biển cả. Có em đã tưởng tượng:
– Thưa thầy con thấy biển là một trang vở lớn mà buồm là chữ "A".
Một em khác nói tranh:
– Cánh buồm là dấu than (!) trên trang vở biển nữa, thưa thầy...
Thầy Thành cười:
– Các trò ạ, người ta ví:
Chí làm trai tựa cánh buồm biển cả,
Tấm lòng già như cây lớn quê hương
Nghe thầy Thành đọc hai câu thơ, các em hết nhìn ra biển lại ngước trông lên ngọn cây. Thầy nói, vẻ đầy tin tưởng:
– Thầy vừa qua tuổi thiếu niên, thầy đọc cho các trò nghe một bài thơ mà thầy đã thuộc cách đây vài năm.
Có em hỏi:
– Chúng em chép vào các-nê (sổ tay) có được không, thưa thầy?
– Được. – Thầy đọc chậm chậm:
Hú hồn thiếu niên
Ngồi ngắm chuyện năm châu trên trái đất,
Sóng văn minh dồn dập nổi phong trào.
Kia như ai người thì khôn, sức thì mạnh, đất thì rộng, của thì nhiều,
Trời há lẽ riêng chỉ một cõi!
Sao ta cứ dã man quen thói,
Khom thân nỏ mà luôn cúi dưới cường quyền?
Hú ba hồn các chú thiếu niên!...
Một ông lão vai vắt tấm lưới từ trong xóm chài đi ra, theo sau là đám trẻ con không áo, không quần, lấm lem đất cát.
Thầy Thành nói nhỏ với các em:
– Lúc khác thầy sẽ đọc tiếp cho các trò nghe những bài thơ, bài ca mới mà thầy đã thuộc. Giờ thầy trò mình đến bắt chuyện với ngư dân, họ sẽ kể cho nghe vô số chuyện lạ trên bể...
Nhìn thấy thầy Thành, ông lão giơ tay quá đầu, nói oang oang:
– Ôi! ôi! Thầy giáo ở trong phố. Chào thầy.
– Cháu chào cụ. Hôm nay biển lặng mà cụ nghỉ nhà, hả cụ?
– Ờ... Ờ... Đáng lẽ đã ở ngoài khơi, biển bữa nầy lặng như ao. Nhưng vàng lưới bọn tui bị mập và cá nóc nó cắn, nhiều tấm rách quá trời, phải nghỉ đến mấy ngày và víu đã thầy giáo ạ.
Mấy đứa trẻ đứng đằng xa nhìn đám học trò áo quần trắng đẹp, vẻ thèm khát, không dám đến gần.
Thầy Thành hỏi ông lão:
– Cháu định đưa học trò vô xóm để các cụ, các ông nói cho nghe những chuyến đi khơi, về lộng, tháo động vượt bão ạ.
– Trong xóm bữa nầy hồng có ai ở nhà đâu. Những ông cùng thuyền với tui cũng đang đi mỗi người một việc. Chỉ còn tui vừa vá lưới, vừa ra coi thuyền, chờ nước ròng đưa thuyền xuống theo. – ông nhìn ra phía xa, nói: – Để hôm biển động, mời thầy đến xóm chài bầy tui, muốn nghe mấy cũng được. Chuyện đi biển kể mấy ngày, mấy tháng cũng chẳng hết, thầy ạ.
Ông già đi thủng thỉnh xuống thuyền. Thầy Thành dẫn đám học trò đi lại chỗ mấy đứa bé trần trùng trục ngồi bệt dưới cát. Thấy
người lạ, mấy đứa nhỏ sợ, vùng ra khỏi cát, chạy lùi từng bước, có hai em nhỏ tuổi nhất đứng im nhìn... Thầy Thành cười, nói:
– Chẳng ai làm gì các em đâu mà các em sợ. Các em đến đây, thầy và các anh, các chị cho kẹo.
Mấy em lớn máy máy bàn tay mềm mại, đám trẻ trở lại gần bên thầy Thành và các anh chị học sinh... Thầy Thành đưa gói kẹo cho hai nữ sinh phát cho các em. Thầy đứng nhìn mấy em gầy ốm bé nhỏ nhất trong đám trẻ. Thầy hỏi:
– Em bé này chắc nhà đói lắm, phải không?
– Thưa nhà nó đói, đói dữ, má nó vừa mới chết ạ.
Thầy Thành sập mi mắt xuống, lông mày rung rung. Thầy ngồi thụp xuống, bế xốc em bé lên vai. Nó hơi hốt, hai chân chuồi chuồi, lấm cả vạt áo trắng trước ngực áo thầy. Thầy dỗ dành:
– Về nhà em... thầy sẽ cho em nhiều kẹo mà.
Thầy Thành bế em bé mồ côi cùng với các em học trò đi theo đám trẻ về xóm chài.
Khi qua giếng thơi, thầy đặt em bé mồ côi xuống. Mượn được một số gàu, thầy và trò múc nước tắm cho đám trẻ. Hai nữ sinh cuốn gọn tà áo dài quanh người, múc nước giội cho em bé nhất. Thầy Thành vừa kỳ cọ cho các em, vừa dặn:
– Ngày ngày các em phải tắm cho sạch. Ăn uống đã khổ, người lại bẩn thỉu thì không lớn, không khỏe mạnh được. Ba má bận đi làm chài, đánh lưới thì em lớn tắm cho em nhỏ. Ở cùng xóm phải giúp đỡ nhau...
Một số bà con trong xóm thấy chuyện lạ chạy ra, nói bô lô ba la một chập: "Trời đất! Trời đất!... Mấy thầy, mấy cậu, mấy cô tốt bụng... tốt bụng quá lận. Có đời thuở mô người trên tỉnh sang trọng lại xuống cái xóm mường nước mặn này... Cho con nít kẹo, tắm gội cho chúng nữa nhớ! Hiếm thấy! Hiếm thấy trên trần gian đỏ nghe..."
Bà cụ già móm mém nhìn những vết lấm lem trên áo thầy Thành cụ cười một nụ cười héo hắt chỉ còn lại. Cụ cầm một miếng trầu, đặt vào thành giếng, trở sống dao dần dần. Thầy Thành đỡ lấy tay cụ:
– Để cháu nhai giùm cụ, già kiểu này đã không mềm mà ăn lại lạt lẽo.
Bà cụ ngạc nhiên, hai mắt nhìn thầy Thành chằm chằm:
– Răng thầy trắng ngọc, trắng ngà mà thầy rành cả việc nhai trầu?
– Cháu thường nhai trầu cho bà ngoại của cháu, cụ ạ.
– Thầy thương trẻ quý già. Lạ lùng lắm! Ước chi ông quan đầu triều, đức vua đầu nước có lòng thương người như thầy thi cánh dân đen bầy tui được mát mặt đôi ba phần!
Thầy Thành chắp tay xá xá bà cụ và những người xóm chài. Trên đường về, thầy Thành nói với học trò:
– Các trò thấy đó, bà cụ sống trên cửa bể này đã rụng hết răng mà cũng không sắm nổi chiếc cối giã trầu. Cảnh dân mình khổ vậy đó. Thầy đi từ ngoài xứ Nghệ vô đây, nơi nào thầy cũng thấy người dân sống lầm than, tối tăm, nhục nhằn! Thầy nghĩ là chúng ta học cái chữ để biết được điều hay lẽ phải trên đời và theo thầy, trước hết là học để biết và làm được những việc ích nước lợi dân...
Từ trong xóm chài cất lên tiếng võng đưa và tiếng ru con:
Sớm Nam rồi đến chiều nồm,
Anh đi để lại biển buồn cho em...



