THCS Tân Bình (3)
"Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước." -Đất nước-Nguyễn Khoa Điềm- Có bao giờ giữa nhịp sống bình yên hôm nay, bạn tự hỏi hòa bình thực sự được đánh đổi bằng điều gì? Đã bao giờ bạn thử hình dung về những bữa cơm,những lát khoai vội vã giữa rừng già, những ngụm nước chia đôi trong cơn khát cháy.Đã bao giờ bạn chứng kiến những đứa trẻ non dại lưng chừng tuổ
Khi nhắc đến ba chữ “Thời hoa lửa”, lòng ta lại chợt dâng lên một nỗi niềm bồi hồi khó tả. Tại sao lại gọi là “hoa”,và tại sao lại là “lửa”? Phải chăng “hoa” chính là hình ảnh ẩn dụ cho những năm tháng thanh xuân đẹp đẽ nhất,cho những tâm hồn mười chín,đôi mươi đầy ắp những mộng mơ và khát khao của ông cha ta ngày ấy?Đó là vẻ đẹp của sự trong sáng,của lý tưởng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.Còn về “lửa”,đó không chỉ là sự khốc liệt của bom đạn,của những trận càn rực cháy,mà còn là ngọn lửa ý chí ngùn ngụt trong tim,chẳng bao giờ chịu lùi bước trước kẻ thù.
Khi hai hình ảnh ấy hòa làm một vào nhau,hình ảnh”Thời hoa lửa”đã trở thành một biểu tượng đầy bi tráng.Là khi những đóa hoa tuổi trẻ rực rỡ nhất,dũng cảm dấn thân vào nơi khói lửa mịt mù. Sự hy sinh của họ không phải là dấu chấm hết, mà là sự thắp sáng cho màu xanh bình yên cho hôm nay và cho sau này.
Khúc dạo đầu anh hùng của mảnh đất này được viết bằng máu và hoa vào tháng 6 năm 1965. Bạn biết không, khi ấy chiến lược 'Chiến tranh đặc biệt' của Mỹ đang quẫy đạp trong cơn hấp hối cuối cùng, và Đồng Xoài – mảnh đất hiền hòa nơi chúng ta đang sống – đã được chọn làm điểm hỏa cho 'Quả đấm thép' miền Đông. Rạng sáng ngày 10/6, khi màn đêm còn chưa kịp tan, Trung đoàn 2 cùng Sư đoàn 9 đã dội bão lửa súng cối vào chi khu, xé toạc bầu không khí tĩnh mịch bằng tinh thần 'quyết tử'.
Chín năm đằng đẵng trôi qua, thời gian có thể làm mờ vết đạn, nhưng không thể xóa nhòa ý chí của người con đất đỏ. Đến tháng 12 năm 1974, Đồng Xoài một lần nữa trở thành tâm điểm của bánh xe lịch sử trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long. Lần này, quân ta không chỉ đánh để tiêu diệt sinh lực địch mà còn mang theo khát vọng cháy bỏng: Giải phóng và làm chủ hoàn toàn mảnh đất này.
Kẻ thù vẫn ngạo mạn gọi Đồng Xoài là một pháo đài '’bất khả xâm phạm'’ với hệ thống công sự kiên cố và hơn 1.300 lính canh giữ nghiêm ngặt. Thế nhưng, chúng đã lầm! Dưới sự chỉ huy mưu lược, quân ta thực hiện thế trận nghi binh tài tình tại Bù Đốp khiến kẻ thù hoang mang, để rồi bất ngờ giáng một đòn chí mạng ngay giữa trái tim Đồng Xoài. Đúng 5 giờ 35 phút ngày 26/12/1974, tiếng pháo gầm vang khắp các hướng như tiếng sấm rền của lòng dân oán hận. Những mũi tấn công thọc sâu của Trung đoàn 141 như những mũi dao nhọn đâm thẳng vào sở chỉ huy địch. Cho đến 15 giờ cùng ngày, khi lá cờ cách mạng tung bay kiêu hãnh trên đỉnh Chi khu, đó cũng là lúc Đồng Xoài thực sự được hít thở bầu không khí tự do sau bao năm dài bị kìm kẹp.
Chiến thắng ấy mang tầm vóc của một “cánh cửa thép” được mở toang. Việc làm chủ Đồng Xoài đã cắt đứt hoàn toàn yết hầu tiếp tế, khiến tỉnh Phước Long trở thành một hòn đảo cô độc và sụp đổ nhanh chóng. Đây chính là bước chạy đà quan trọng nhất, là cửa ngõ chiến lược để các binh đoàn chủ lực tiến về giải phóng Sài Gòn trong mùa Xuân 1975 lịch sử. Hai trận đánh, hai thời điểm khác nhau, nhưng đều chung một dòng máu bất khuất. Từ những người lính ngã xuống giữa rừng cao su năm 1965 đến những chiến sĩ tiến về giải phóng năm 1974, họ đã cùng nhau viết lên định nghĩa về một Đồng Xoài rực lửa.
Giữa làn mưa bom Napalm rực đỏ cả một góc trời, ta bắt gặp những”đóa hoa lửa”rực rỡ nhất.Có một cái tên đã trở thành huyền thoại, tạc vào dáng núi , tạc vào lòng người Xtiêng qua bao thế hệ. Người đó chính là Điểu Ong , người con ưu tú của sóc Bù Ló, vị anh hùng đã dùng xương máu của mình để tô thắm thêm sắc đỏ cho lá cờ tổ quốc và giữ cho màu xanh của buôn sóc mãi mãi yên bình. Sinh ra và lớn lên tại Bình Phước mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, Điểu Ong đã sớm nhận thức và thấu hiểu được nỗi đau mất nước và sự áp bức của những thực dân xâm lược. Chứng kiến khung cảnh buôn sóc tan hoang dưới họng súng của kẻ thù , nhìn người thân , bà con phải chịu những cảnh tủi nhục. Từ đó, ngọn lửa căm thù trong lòng ông ngày càng bùng cháy mãnh liệt. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc tháng 1 năm 1960 ông chính thức giã biệt nương rẫy,khoác lên mình màu áo lính để đi tìm tự do cho dân tộc. Vào trong quân ngũ, Điểu Ong như cá gặp nước,như hổ thêm cánh. Không chỉ đánh giặc bằng sức lực mà còn bằng trí tuệ và mưu lược tài ba.Từ năm 1960 đến tháng 12 năm 1969, Điểu Ong tham chiến trong chiến tranh Việt Nam tại địa bàn Bù Đăng.Ông đã chỉ huy đơn vị mình tiêu diệt hàng trăm quân địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, tự tay diệt 76 quân địch.Ngày 12 tháng 12 năm 1969 – một ngày nhuộm màu bi tráng của lịch sử. Trong một trận càn quy mô lớn của Mỹ - ngụy vào căn cứ huyện, Điểu Ong đã trực tiếp chỉ huy trung đội tiến công vào ấp Bù Môn. Khi vòng vây khép lại, giữa lằn ranh sinh tử, ông đã đưa ra một quyết định đầy cao thượng: Nhận phần hiểm nguy về mình để đồng đội được sống. Ông ra lệnh cho anh em bí mật rút lui, còn mình ở lại bám trụ trận địa để "chia lửa". Một mình đối mặt với cả hai cánh quân địch cùng pháo binh ào ạt, Điểu Ong dùng cả tiểu liên và súng ngắn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Khi sức cùng lực kiệt, ông rút quả lựu đạn cuối cùng ném thẳng vào quân thù giữa tiếng hô vang dội cả núi rừng. Ông đã ngã xuống, nhưng dáng đứng ấy đã trở thành bất tử . Với những chiến công hiển hách, Điểu Ong đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1978. Năm 2004, một tượng đài oai nghiêm của ông đã được dựng lên giữa trung tâm huyện Bù Đăng, như một lời nhắc nhở cho thế hệ mai sau về một thời hoa lửa.Không chỉ là một chiến binh dũng mãnh, Điểu Ong còn là một "linh hồn" kết nối các dân tộc. Ông đi đến đâu, dân tin đến đó. Bằng tấm lòng chân thành, ông vận động thanh niên tòng quân, cảm hóa những người lầm đường lạc lối trở về với chính nghĩa, tạo nên một khối đại đoàn kết sắt đá chống lại kẻ thù.
Nhìn lại hành trình lịch sử oai hung của dân tộc,ta không chỉ thấy tên tuổi của những vị tướng lĩnh oai hùng, mà còn thấy bóng dáng của biết bao người con trai, con gái bình dị đã hóa thân thành hồn thiêng sông núi.Giữa những trang sử đỏ của quê hương, có bao giờ bạn dừng lại đôi ba phút để ngắm nhìn những khuôn mặt trẻ măng trong tấm ảnh trắng đen mờ nhạt? Họ là những người con trai,con gái tuổi mười chín, đôi mươi – cái tuổi mà lẽ ra đang được sống trong những giấc mơ hồng,những hoài bão mộng mơ nhưng lại sẵn sàng chọn cho mình một con đường đầy gai góc và lửa đạn.Có những chàng trai mang bờ vai rộng và trái tim rực cháy, đã biến những bắp tay cuồn cuộn thành đòn bẩy để chuyển súng, tải đạn, lấy thân mình làm tường thành vững chãi chắn lối quân thù. Và cũng có những người con gái đất đỏ mỏng manh như cánh hoa rừng nhưng lại mang ý chí sắt thép.Các chị đã tạm biệt mái tóc thề xanh mướt,gác lại những câu chuyện thanh xuân còn đang dang dở,để dấn thân vào những cơn mưa bom bão đạn, làm giao liên, làm cứu thương hay trực tiếp cầm súng giữ lấy từng tấc đỏ màu mỡ.Dù là nam hay nữ, dù tên tuổi họ đã được tạc vào bia đá oai nghiêm hay vẫn còn nằm lại đâu đó dưới những tán cao su lặng lẽ,thì máu xương ấy đã hòa chung vào một dòng chảy. Họ không cần ai ghi nhớ tên mình, chỉ cần Tổ quốc được hòa bình,họ chỉ cần tổ quốc có được niềm vui độc lập như ngày hôm nay!Họ chính là những đóa hoa rực rỡ nhất trong dòng chảy ‘’hoa lửa”, đã chấp nhận lụi tắt để thắp sáng lên màu xanh bình yên mà chúng ta đang hít thở hôm nay. Sự hy sinh ấy không bao giờ là hư vô, mà đã hóa thân vào từng ngọn cỏ, lá cây, vào chính nhịp thở của thành phố Đồng Xoài anh dũng.
Giữa nhịp sống hối hả của một thành phố trẻ, đôi khi ta dễ quên đi cái tĩnh lặng của hòa bình được đánh đổi bằng bao trận bão lửa.Bao nhiêu người con đã ngã xuống nơi chiến trường,để lại nỗi đau khôn nguôi cho những người còn sống ở quê nhà.Bao nhiêu người con suốt ngần ấy năm vẫn bặt âm hao,chẳng biết sống chết ra sao,khiến mẹ già mỏi mòn,trông ngóng,nỗi nhớ thương trĩu nặng đôi vai gầy. Những dòng chữ tôi viết hôm nay không chỉ là con chữ trên mặt giấy, mà là nhịp đập của trái tim biết ơn gửi đến những người tráng sĩ đã ngã xuống. Để hôm nay, thay vì tiếng bom đạn, tôi được nghe tiếng trống trường;thay vì cầm súng,tôi được cầm bút để viết nên những ước mơ;thay vì tiếng bom đạn chói tai,tôi được nghe những thanh âm mộc mạc của hòa bình,những bản tin về đất nước được phát ra từ chiếc loa phát thanh nơi cuối phố;thay vì khói súng đen kịt, tôi được nhìn thấy sắc xanh của những rừng cao su bạt ngàn.
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày dỗ tổ mùng mười tháng ba.”
Vâng,kể từ thời các vua Hùng dựng nước cho đến các cuộc kháng chiến sau này, biết bao thế hệ cha anh đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ nền độc lập và tự do của Tổ quốc. Những thành tựu và bài học lịch sử ấy vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay.Tôi biết ơn những anh hùng chiến sĩ đã quên đi niềm đau,quên đi cả bản thân mình.Để ngày hôm nay chúng tôi được sống trong hòa bình và hằng ngày được tung tăng cắp sách đến trường trong niềm hân hoan,được đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng và được hát vang giai điệu”Quốc ca”bằng lòng tự hào dân tộc. Thế hệ trẻ hiện nay được sống trong hòa bình, ấm no chính là nhờ công lao to lớn của những người anh hùng đã âm thầm cống hiến, sẵn sàng hy sinh bản thân vì Tổ quốc. Vì vậy, thế hệ trẻ chúng ta ngày nay cần biết trân trọng quá khứ, ghi nhớ sự hy sinh của các thế hệ đi trước. Đồng thời, chúng ta phải không ngừng học tập, rèn luyện, trau dồi tri thức để góp phần xây dựng và phát triển đất nước, trở thành những công dân có ích cho xã hội.



