THCS Tân Bình (5)
“Thời hoa lửa” kể về chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1945 – 1954, cũng là những câu chuyện của những mảnh đời cách mạng. Có những anh hùng như Tạ Quốc Luật (1925-2004), một người con cách mạng đã cống hiến hết mình cho Tổ quốc, ông đã sống sót cho đến ngày độc lập và dành phần đời còn lại của mình cho giáo dục truyền thống cách mạng ở địa phương. Còn cả anh hùng Đặng Thùy Trâm (1942-1970), bà là một người có xuất thân ở tầng lớp tri thức, có nhiều tài nghệ nhưng lại chọn đi theo tiếng gọi non sông
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình với cái tên Võ Giáp. Gia đình cậu thuộc diện nghèo trong làng, những câu chuyện đêm về Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi của mẹ, cùng với bài vè “Thất thủ kinh đô” mà cha kể về phong trào đánh Pháp, chính những câu chuyện ấy đã ấn tượng và gieo vào lòng cậu một ý chí cách mạng, một tinh thần đấu tranh, quyết giành độc lập cho dân tộc. Ngay từ rất trẻ, ông đã nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, tham gia phong trào học sinh, hoạt động báo chí và đấu tranh dân chủ. Ông đã gặp không ít những trở ngại trên chính con đường mà ông đã chọn, bị đuổi học, bị bắt giam, bị cấm về Huế, nhưng chỉ bấy nhiêu ấy là không đủ để khiến ông nản lòng, nhất là khi chỉ mới là thiếu niên, tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng của ông vẫn không hề lay chuyển.
Tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp vượt biên sang Trung Quốc để được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được Người cử đi học quân sự tại căn cứ Diên An. Cũng trong năm ấy, ông đã gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và bắt đầu hoạt động tại Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội. Năm 1941, ông đã cùng Bác trở về Cao Bằng. Theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam), với chiến công đầu tiên tại đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần 3 đến 4 ngày sau đó.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Võ Nguyên Giáp giữ nhiều trọng trách quan trọng và trở thành vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1953, trước tình hình không mấy khả quan, Pháp quyết định bổ nhiệm Tổng Chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương và tiến hành kế hoạch Navarre, với mấu chốt nằm ở việc tập trung lực lượng cơ động lớn, càn quét các vùng kiểm soát cùng với cứ điểm mạnh nhất Đông Dương - Điện Biên Phủ - được xây dựng tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay thuộc phường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên). Đây là trận chiến lớn nhất trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất - Chiến dịch Điện Biên Phủ - diễn ra 56 ngày đêm và được coi là trận chiến có ý nghĩa rất lớn, đã đi vào lịch sử nhân loại. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động Địa Cầu”, với chỉ huy mặt trận là đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông là người góp công rất lớn trong chiến thắng này, đây cũng là chiến thắng lớn nhất của ông trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nghỉ hưu năm 1991 ở tuổi 80. Suốt phần đời còn lại của mình, ông vẫn quan tâm và đưa ra một số lời bình luận trên mặt báo về tình hình đất nước trước khi mất vào ngày 4 tháng 10 năm 2013, thọ 103 tuổi. Quốc tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tổ chức trong hai ngày 12 và 13 tháng 10 năm 2013. Ông được an táng tại Quảng Bình, yên nghỉ tại chính quê nhà nơi mà ông được sinh ra.
Ngày nay, trong hòa bình và độc lập, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc và biết ơn sâu sắc những cống hiến to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Suốt quãng đời của mình, ông đã cống hiến bản thân cho Tổ quốc, đem lại độc lập cho dân tộc, để lại cho thế hệ sau một Việt Nam hòa bình, niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước và biểu tượng sáng ngời của trí tuệ, bản lĩnh. Lịch sử hào hùng đã nuôi dưỡng tinh thần tự tôn dân tộc mạnh mẽ, ý chí kiên cường chống giặc ngoại xâm, bảo vệ non sông, đất nước. Những người con đất Việt đã ngã xuống vì chiến tranh, họ là những anh hùng sẽ luôn sống mãi với lịch sử, sống mãi với ký ức, yên nghỉ tại chính nơi mà họ đã hy sinh vì độc lập, vì cách mạng, vì Tổ quốc…



