Thế hệ nhập ngũ năm 1968 mang trên vai một sứ mệnh vô cùng nặng nề khi cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt và cam go nhất sau sự kiện Tết Mậu Thân
Thế hệ nhập ngũ năm 1968 mang trên vai một sứ mệnh vô cùng nặng nề khi cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt và cam go nhất sau sự kiện Tết Mậu Thân. Đối với cựu chiến binh Cầm Văn Quyên (sinh năm 1948), người con của đại ngàn Tây Bắc, hành trình 8 năm quân ngũ (1968 - 1976) là một bản hùng ca thầm lặng, đi qua những năm tháng gian khổ nhất của chiến trường Nam Lào và đường Trường Sơn để rồi vinh dự trở về trong khúc khải hoàn ca toàn thắng.
Từ bản làng Tây Bắc đến những cánh rừng Nam Lào
Mùa hè năm 1968, khi tròn 20 tuổi, chàng thanh niên Cầm Văn Quyên nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tạm biệt bản làng, vượt núi băng rừng lên đường nhập ngũ. Mang theo sức bền và sự can trường của người con mang dòng máu Thái, sau thời gian huấn luyện nghiêm ngặt, ông được biên chế vào một đơn vị đặc công biệt động, nhận lệnh hành quân bí mật xẻ dọc Trường Sơn sang chiến trường Nam Lào.
Nhiệm vụ của đơn vị ông Quyên lúc bấy giờ cực kỳ gian khổ: Đánh phá các căn cứ hậu cần, bãi đỗ trực thăng và kho tàng của địch nhằm cắt đứt sự chi viện, đồng thời bảo vệ hành lang tuyến đường vận tải chiến lược của ta. Suốt những năm tháng từ 1968 đến 1972, cuộc sống của ông gắn liền với những cơn sốt rét rừng ngã nước, những bữa ăn chỉ có củ mài, măng đắng và những trận đánh luồn sâu, đánh hiểm trong lòng địch.
Trận trinh sát căn cứ cao điểm và chiếc ống bương nước nghĩa tình
Kỷ niệm sâu sắc và thử thách cam go nhất đối với cựu chiến binh Cầm Văn Quyên diễn ra vào chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đầu năm 1971. Đơn vị của ông nhận nhiệm vụ bí mật luồn sâu, trinh sát sơ đồ bố phòng hỏa lực của địch trên một cao điểm chiến lược để chuẩn bị cho trận đánh lớn của đại quân.
Trong một đợt tiếp cận hàng rào dây kẽm gai, tổ trinh sát của ông Quyên bị địch phát hiện. Thám báo và trực thăng địch quần thảo dội đạn điên cuồng, cắt đứt đường rút lui của tổ. Ông Quyên cùng một chiến sĩ trẻ tên hoài bị mắc kẹt lại trong một hang đá nhỏ dưới chân cao điểm suốt ba ngày đêm, không lương thực, không nước uống giữa cái nắng khô cháy của vùng đất trung Lào.
Đến ngày thứ ba, vết thương ở chân của Hoài bắt đầu nhiễm trùng, cơn khát bóp nghẹt cổ họng khiến người đồng đội trẻ lịm dần đi. Bất chấp hiểm nguy, lợi dụng màn đêm buông xuống, ông Quyên đã bò rạp bằng khuỷu tay, dùng đôi tai nhạy bén của người đi rừng để dò tìm nguồn nước từ một khe đá nhỏ cách đó vài trăm mét. Ông hứng từng giọt nước mát lạnh vào một chiếc ống bương tre mang theo bên mình.
Khi quay trở lại hang, ông Quyên không uống một ngụm nào mà nhỏ từng giọt nước quý giá sưởi ấm đôi môi nứt nẻ của Hoài, giúp đồng đội qua cơn nguy kịch. Tấm lòng nhường nước của người đàn anh Tây Bắc đã tiếp thêm sức mạnh cho cả hai bám trụ kiên cường cho đến khi lực lượng của ta mở mũi tiến công, giải vây thành công. Sơ đồ trinh sát mà ông Quyên bảo vệ bằng cả mạng sống đêm đó đã góp phần giúp đơn vị tiêu diệt gọn cứ điểm của địch vào ngày hôm sau.
Khép lại hành trình 8 năm rực lửa
Sau ngày 30/4/1975, ông Cầm Văn Quyên cùng đơn vị tiếp tục ở lại tham gia công tác quân quản, khắc phục hậu quả chiến tranh và giúp nhân dân ổn định đời sống tại vùng mới giải phóng. Đến năm 1976, khi đất nước đã hoàn toàn liền một dải và bước vào giai đoạn hòa bình vững chắc, ông nhận quyết định xuất ngũ trở về bản làng thân yêu.
8 năm (1968 - 1976) là một chặng đường dài đầy máu, mồ hôi và nước mắt, lấy đi trọn vẹn tuổi thanh xuân đẹp nhất của người cựu chiến binh Cầm Văn Quyên. Trở về với núi rừng Tây Bắc với những vết thương trên da thịt khi thời tiết thay đổi, nhưng trong lòng ông luôn vẹn nguyên niềm tự hào về một thời kiên cường gối đất nằm sương, góp công sức nhỏ bé của mình vào ngày độc lập, tự do của dân tộc



