Cựu chiến binh

Thế hệ nhập ngũ năm 1975 và khoác áo lính liên tục đến năm 1984 như cựu chiến binh Đặng Xuân Thanh

Lào Cai20/05/2026Đoàn xã (xã Đông Cuông)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thế hệ nhập ngũ năm 1975 và khoác áo lính liên tục đến năm 1984 như cựu chiến binh Đặng Xuân Thanh (sinh năm 1955) mang trên mình một số phận lịch sử vô cùng đặc biệt. Khác với những người lính may mắn được trở về vinh quy bái tổ ngay sau ngày 30/4/1975, chặng đường gần một thập kỷ quân ngũ của ông là hành trình dấn thân liên tục qua hai thời kỳ: đi qua khúc quanh cuối cùng của cuộc Kháng chiến chống Mỹ và bám trụ dẻo dai qua những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương, làm nghĩa vụ quốc tế.

Từ ngày hòa bình đầu tiên đến những chiến hào mới

Mùa xuân năm 1975, khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy rầm rập diễn ra trên khắp các mặt trận, chàng thanh niên Đặng Xuân Thanh vừa tròn 20 tuổi. Nghe theo tiếng gọi tòng quân, ông nhập ngũ vào những tháng đầu năm 1975, hành quân thần tốc vào Nam. Thế nhưng, niềm vui đất nước thống nhất, lặng tiếng súng chưa kéo dài được bao lâu thì những đốm lửa xung đột mới lại bùng lên ở hai đầu biên giới.

Thay vì được phục viên trở về quê hương cày ruộng, đi học, ông Thanh cùng đơn vị bộ binh của mình tiếp tục nhận lệnh hành quân nhận nhiệm vụ mới. Suốt những năm từ 1977 đến 1979, ông tham gia vào các trận đánh bảo vệ biên giới Tây Nam, rồi sau đó là chuỗi ngày dài ròng rã làm nghĩa vụ quốc tế cứu giúp nước bạn khỏi thảm họa diệt chủng và sau đó là điều động tăng cường lên biên giới phía Bắc. 9 năm quân ngũ của ông là một vòng quay không nghỉ của những hành trình chuyển quân dằng dặc.

Chiếc ấm nhôm móp méo và giọt nước chia đôi giữa rừng khộp khô cháy

Kỷ niệm sâu sắc nhất, thử thách cao độ nhất về tình đồng đội trong cuộc đời binh nghiệp của cựu chiến binh Đặng Xuân Thanh diễn ra vào mùa khô năm 1981, trong một chiến dịch truy quét tàn quân địch ở vùng biên giới đóng quân rừng khộp.

Nhiệm vụ của tiểu đội ông Thanh là tổ chức một mũi tuần tra, mật phục độc lập trong rừng sâu suốt một tuần lễ. Khí hậu vùng biên giới mùa khô khắc nghiệt đến đáng sợ, cái nắng như thiêu như đốt làm các con suối cạn trơ đáy, lá rừng rụng xơ xác. Đến ngày thứ tư, lượng nước dự trữ trong các đông-gơ (bình tông) của anh em đã cạn kiệt. Cơn khát bóp nghẹt cổ họng, đôi môi người nào cũng nứt nẻ, rớm máu.

Trong lúc hành quân, người chiến sĩ trẻ nhất tiểu đội tên Nam bị kiệt sức vì mất nước, ngã khuỵu xuống nền đất bỏng rát. Giữa tình thế hiểm nghèo ấy, ông Thanh — lúc này đã là một tiểu đội trưởng dày dạn kinh nghiệm — lật tìm trong chiếc ba lô sờn cũ của mình, lấy ra một chiếc ấm nhôm nhỏ móp méo do dính mảnh đạn từ một trận đánh trước. Đó là chiếc ấm ông dùng để đun nước rừng hằng đêm, bên trong vẫn còn sót lại chưa đầy một phần ba dòng nước mang theo từ trạm giao liên cũ.

Ông Thanh không uống một giọt nào, cẩn thận đỡ đầu Nam dậy, đổ một ít nước vào chiếc nắp ấm nhỏ, từ từ thấm vào môi và cho Nam uống từng ngụm nhỏ. Số nước còn lại, ông chia đều ra các nắp bình cho những anh em khác trong tổ gác. Giọt nước chia đôi giữa rừng khộp khô cháy ngày ấy quý hơn vàng, giúp cả tiểu đội lấy lại chút sức lực để tiếp tục dìu nhau băng qua cánh rừng, tìm thấy một giếng nước ngọt của bản làng bản địa vào chiều tối hôm đó.

Chiếc ấm nhôm móp méo ấy đã trở thành báu vật của tiểu đội, nhắc nhở họ rằng giữa ranh giới sinh tử của chiến trường, sự hy sinh và nhường nhịn lẫn nhau chính là thứ vũ khí tối cao để người lính cùng nhau trở về.

Đoạn kết của 9 năm gối đất nằm sương

Năm 1984, sau khi tình hình các mặt trận biên giới và nghĩa vụ quốc tế đã cơ bản ổn định, cựu chiến binh Đặng Xuân Thanh hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, nhận quyết định xuất ngũ trở về cuộc sống đời thường ở tuổi 29.

Hành trang rời quân ngũ sau 9 năm dằng dặc của ông là một chiếc ba lô bạc màu, một cơ thể mang đầy sương gió chiến trường và chiếc ấm nhôm móp méo đầy kỷ niệm. Dù thanh xuân của ông không có những khoảng lặng bình yên như bao người khác, nhưng đối với ông Đặng Xuân Thanh, 9 năm (1975 - 1984) ấy là một chặng đường danh giá. Ông đã cống hiến trọn vẹn những năm tháng dẻo dai nhất của tuổi trẻ để giữ gìn bờ cõi, bảo vệ sự bình yên cho đất nước từ những ngày đầu lập lại hòa bình

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn