Bài viết

THỂ HIỆN ÂM NHẠC: TINH TƯỜNG VÀ TINH TẾ

Đồng Tháp17/07/2026Đoàn phường Cao Lãnh (Đoàn phường Cao Lãnh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Âm nhạc truyền thống miền Nam đã thấm nhuần trong hơi thở và dòng máu của nhạc sư Vĩnh Bảo. Cuộc đời của ông là một quãng thời gian dài. Học hỏi từ các anh trong gia đình (ông là con trai út), từ bè bạn, người mới quen, hay từnhững người thầy. Trong ông đã tích lũy không biết bao nhiêu kiến thức âm nhạc, nhạc ta lẫn nhạc Tây. Hiểu được những âm điệu một cách thấu đáo đã là điều đáng quí, ông còn hiểu về mặt giá trị mỹ quan, xã hội của nó, thì thật ngoại hạng. Ông thường nói về tính thẩm mỹ của âm nhạc, nhận diện cá tính một người để hiểu người ấy biết đàn đến đâu, khả năng và tính tình ra sao.

Trong ý tưởng tri âm, tri điệu, ông luôn quan sát rất nhanh tiếng đàn của một khách đến viếng thăm ông. Ông có thể kết nối rất dễ dàng, hỗ trợ từng câu nhạc, và thưởng thức từng chữ (nốt) đàn của người khách để thẩm định cho chính mình trong “đối tác” nghiệp ca cầm. Sự tinh tường của ông về bài bản, về lý thuyết, và có thể giảng giải thông suốt và hết sức nhiệt tình. Từng va chạm với thực tế giảng dạy ở trường nhạc, các đại học trong nước cũng như ở Pháp, ở Mỹ, ông tuôn trào những ý tưởng, những ví dụ có khi rất hài hước làm người nghe không cảm thấy mệt. Những kinh nghiệm học tập bài bản từ thuở nhỏ đến lúc trưởng thành đều được tích lũy trong bộ nhớ phi thường của ông.

Trong truyền thống đờn ca tài tử, bài bản nhạc lễ dần dà được biến tấu bằng cách rút ngắn số câu lại, nhưng tăng số nhịp (đương nhiên, số nốt nhạc) nhiều lên. Việc tăng thêm nốt nhạc không đơn giản như trong âm nhạc tây phương, "thème et variations”. Mỗi một nhạc sĩ luôn luôn “sáng tác” thêm những nốt nhạc mới, lấp vào ô nhịp dãn nở theo quy định, ví dụ bài Nam ai, Nam xuân, Lưu thủy cũng như các bài khác đều tăng số nhịp từ 4 lên 8. Nói theo nhà nghề là “mở” ra nhịp tám. Tuy nhiên, riêng trường hợp bài Tây Thi không thể mở ra nhịp 8 được “vì nghe không hay”, ông xác định như vậy. Như thế là tăng gấp đôi. Nhu cầu cho phép nghệ sĩ thêm chữ đàn mới vào trong các khung ấy. Đó là nhu cầu sáng tác tại chỗ núp dưới dạng triển khai (elaboration). Chính nhờ vào ý tưởng đó, các nhạc phẩm mới được dịp xuất hiện sau một thời gian dài câu nhạc bị đóng khung. Những Tây Thi, Xuân tình, Tử đại oán, Trường tương tư, Văn Thiên Tường, v.v. vốn không có trong nhạc lễ, nay thấy xuất hiện trong tài tử và trở nên rất thông dụng như bài bản hạng trung hoặc lớn. Ông đã trải qua kinh nghiệm rộng lớn về bài bản, nắm bắt được phương thức triển khai câu nhạc; không những thế, ông còn có một lý luận sắc bén về mỗi tiếng đàn và phong cách diễn tấu của truyền thống này. Một hôm tôi đến nhà thăm và muốn được ông cho nghe những đoạn nhạc của các nhạc sĩ từng hòa đàn với ông từ nhiều thập kỷ trước đây như Bảy Bá (tức soạn giả Viễn Châu), Sáu Tửng, Văn Vĩ, Năm Cơ, Năm Vĩnh, và sau này là Ba Tu, Vũy Chỗ, v.v. và hỏi ông nhận định thế nào về ngón đàn của từng vị. Có thể nói, ông là nhà phê bình âm nhạc đích thực có một khả năng phân tích từng câu từng chữ thật linh hoạt, thú vị, chính xác khiến tôi hết lòng nể phục. Ông quả là một kho tàng về bài bản, không những thế, một hôm tôi đến tiếp xúc tận nhà, ông còn biểu hiện khả năng đánh giá, lý giải một cách tinh tế tiếng đàn, cách sắp chữ đàn của từng người cho tôi nghe.

Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây không phải chỉ là số lượng bài bản (đành rằng việc này có thể là yếu tố đánh giá khả năng một cách khách quan đối với bất cứ nghệ nhân, nghệ sĩ nào), nhưng chính sự tái tạo những hình ảnh quá khứ gắn liền với bài nhạc ấy, buổi đàn ấy, người ca người đàn ấy trong giao hưởng âm nhạc thật là tuyệt diệu. Với ông, từng đoạn nhạc khi được nghe lại có thể tái tạo trong ông một không gian quá khứ vô cùng sống động. Trong một phỏng vấn ngắn, tôi bật lên một đoạn của bài ca Vọng cổ nhịp tám, ông cho tôi biết hình ảnh cô đang ngồi ca ra sao, khuôn mặt bầu bĩnh như thế nào, ai đệm đàn, và đàn gì, v.v. Một dịp khác, nhân tôi nhắc đến loại đàn tranh dây cước (dây bằng thau) mà thuở nhỏ tôi thỉnh thoảng có đàn do hướng dẫn của thầy tôi, nhạc sư Trầm Văn Kiên tức Mười Kiên (Cái Tràm, Cần Thơ), lúc ấy lớn hơn ông khoảng hơn 15 tuổi, ông kể ra một câu chuyện hết sức thú vị về bối cảnh ông gặp gỡ thầy tôi ở thành phố Cần Thơ hôm ấy; rồi câu chuyện ông nghe tiếng đàn tranh loại dây thau ấy ở một con hẻm cạnh đình Tân An trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn năm xưa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn