THỂ HIỆN ÂM NHẠC: TINH TƯỜNG VÀ TINH TẾ (1)
Âm nhạc không chỉ là âm thanh. Âm thanh chỉ thể hiện khi có hoàn cảnh thích nghi, khi môi trường được mở ra, dù trong một thời gian ngắn nhất. Âm nhạc ở mỗi nơi mỗi khác. Tuy nhiên, môi trường sáng tạo của tất cả các nền âm nhạc đòi hỏi nhiều yếu tố hợp thành. Âm thanh của nốt nhạc được kết nối lại theo một nguyên tắc, qui trình, và quan trọng hơn hết là tư duy trong bộ não của người đàn, người ca. Nó là kết quả sau cùng của một “sản phẩm” và cần phải có người “tiêu thụ” (kể cả người đàn cũng là đối tượng tiêu thụ âm nhạc cho chính bản thân mình). Vì thế, vai trò của người nghe cũng không kém quan trọng. Nhạc sư Vĩnh Bảo kể rất nhiều câu chuyện trong đời âm nhạc của ông, đối diện với nhiều tầng lớp khán giả khác nhau. Chính đối tượng nghe nhạc làm ông có thể thích thú đàn đúng, đàn sáng tạo, và đàn nhiều. Tuy nhiên, có những đối tượng nghe nhạc khiến ông không còn hứng thú mà phải buông đàn ra đi. Từ đó mới hiểu rằng thính giả có tầm quan trọng đối với nhạc sĩ đến mức độ nào!
Qua những cơ hội mà ông có dịp tham gia (dù hiện nay với tuổi già ngoài 90), ông không quên bất cứ một chi tiết nhỏ nhặt nào từ giọng nói, tiếng cười, tiếng ca, tiếng đàn, dù có khi cách nay đã 70, 80 năm. Ông nói về tiếng đàn, chữ nhấn, vuốt, rung của mỗi nhạc sư, nhạc sĩ mà ông biết trong đời và sự tinh tế của nó ra sao. Có thể nói, bản thể của âm nhạc Việt Nam mang tính “động”, như nhận định của nhà nghiên cứu lão thành Mịch Quang về hát bội và Kinh Dịch; nó đa dạng về nội dung, ý niệm, và phong phú về cách diễn tấu. Cách đi và về của chữ nhạc, cách nhấn cạn nhấn sâu, cách rung của mỗi âm, và ngay cả sự vụng về của người đàn như thế nào ông cũng dễ dàng phát hiện. Sau đây là một vài nhận xét tinh tế của ông về tiếng đàn của các nghệ sĩ đồng nghiệp của mình: Văn Vĩ (Đinh Văn Dậm). Tiếp xúc với một số nhạc sĩ khiếm thị, chẳng hạn như: Sáu Khỏe, Duy Trì, Văn Vĩ, tôi nhận thấy ông nào cũng có lối đàn mắc mỏ rất tài tình, gây khó khăn cho người khác.
Mười Tiễng (Võ Văn Tiễng). Ngày nay nhạc sĩ đàn kìm phần đông là bỏ bớt nhấn thay vào đó lối đàn chuyền nhiều chữ, đánh mất đi cải điềm đạm của cây đàn lãnh đạo này. Ai đã từng nghe ông Mười Tiễng song tấu kìm với tranh Vĩnh Bảo trong băng Nam Bình I trên những bản Nam xuân, Nam ai, Văn Thiên Tường, Tứ đại oán thì thấy rõ ngón đàn kìm của ông rất là gân guốc, sâu sắc, đổ hột, tiếng đàn tròn trịa óng ả, nhấn chín chữ, thiết nghĩ ai ai cũng đồng ý dành cho ông một ngai riêng biệt.
Sáu Tửng (Huỳnh Văn Sâm). Lối đàn kìm và xến của ông rất là độc đáo. Tiếng đàn phát ra nghe rất anh hùng và tự tin. Chữ đàn sắp xếp sắc sảo, câu cú tròn vành rõ nghĩa, hơi nào ra hơi nấy, tiết tấu mắc mỏ, mùi, dễ gợi cảm cho người cùng đàn. Trong hòa tấu, lối đàn rất là sôi động, ra vô, quăng bắt của ông rất là mạch lạc, tạo hào hứng cho người cùng đàn. Có những lúc đang đàn, ông đơn phương ngưng nghỉ, rồi một lát sau đó, bất thần nhào đại vô, làm cho người cùng đàn giựt mình, có khi bị rơi đài. Mỗi lần có dịp hòa đàn với ông, tôi luôn bắt gặp nơi ông một số câu đàn mới, lạ và hay.
Ông biết nhiều về phong cách đàn của các nghệ sĩ, nhưng luôn giữ tinh thần hòa đồng, tinh thần hỗ trợ. Ông kể cho tôi nghe một câu chuyện khá lý thú như sau:
Trong khi đàn hòa với nhau, nhỡ trong nhóm đàn sai nhịp, trật câu, tôi cũng đàn sai theo luôn, nương theo để cho người nghe không thấy cái sai của họ. Một lần nọ trong buổi hòa đàn, một nhạc sĩ lão thành rất tên tuổi (xin phép không nêu tên) độc tấu đàn tranh bản Lưu thủy trường. Sau khi dứt bản, một số thính giả yêu cầu tôi đàn trở lại Lưu thủy trường. Ôm đàn lên, thay vì đàn Lưu thủy trường, tôi đàn bản Phú lục chấn. Lúc ra về, ông nhạc sĩ lão thành nói trên bước lại ôm tôi và nói: “Chú thật là tế nhị.”



