THỂ HIỆN ÂM NHẠC: TINH TƯỜNG VÀ TINH TẾ (2)
Điểm này, ông áp dụng cái khung xê dịch cho phép nâng đỡ người đàn sai để bản nhạc nghe “không sai". Khi thấy đồng nghiệp của mình đàn không đạt, mình tránh, không nên để sự việc ấy lộ ra thêm cái nhược điểm của đồng nghiệp mà lại làm phong phú hơn trong cảnh quan âm nhạc (soundscape). Cái tinh tế trong cuộc sống cũng như trong biểu diễn của nhạc sư Vĩnh Bảo là thế đấy. Sự tinh tường của ông trong nhận định và phân tích âm nhạc cũng là điều hiếm thấy đối với các nghệ sĩ dù có tiếng đàn hay, biểu diễn chuyên nghiệp. Ông tự nhận là người “autodidacte”, tự mày mò tìm học chứ không qua trường lớp. Những ý tưởng ông đưa ra thường căn cứ vào vốn suy luận vững chắc, không phải tin như người ta hay dễ tin, không nói theo cảm tính, mua vui, hay đồng lòng. Chính vì thế ông có một chỗ đứng riêng, nhưng phản biện vững chắc. Tôi yêu cầu ông thử đưa ra vài ví dụ. Ông nắm lấy cơ hội ngay để giải thích cho tôi nghe về điều mà công chúng hiện nay thường bàn. Đó là trường hợp về sự ra đời của bài Vọng cổ. Ai cũng đồng ý về cái gốc của nó là bài Dạ cổ hoài lang. Ông không chối cãi. Tuy nhiên ông nêu ra ba yếu tố không nên quên:
Trước hết, việc sáng tác bài Dạ cổ hoài lang tựa vào bài Hành vân làm căn cứ, nếu không nói nó chính là dị bản của Hành vân đã thông dụng trước đó. Ông lấy viết viết xuống trên giấy cho tôi xem 20 câu, phân tích và chỉ ra câu nào của Dạ cổ hoài lang đã giống hoàn toàn câu của bài Hành vân. Tôi chưa hết ngạc nhiên, ông đã ôm đàn kìm lên đàn để tôi nghe và đối chiếu:
DẠ CỔ HOÀI LANG
Giống bài Hành vân câu số:
(1) Yếu tố thứ hai là bài Dạ cổ hoài lang bây giờ đàn và ca không đúng với cái gốc. Ngày xưa, lúc còn nhỏ ông đã quen với cách đàn bài này theo hơi bắc (hơi vui, nhẹ nhàng) chứ không phải như hơi ai (buồn bã) như hiện nay. Ông đã đàn nó không biết bao nhiêu lần trong đời. Thực tình, tất cả chúng ta hiện nay đều không một ai cao tuổi như ông. Ông còn sống, ông là chứng nhân không thể chối cãi!
(2) Âm hưởng của Dạ cổ hoài lang mang đậm phong cách Huế. Điều này không ai chối cãi được, nếu gốc của nó là Hành vân, thì Hành vân hẳn nhiên là một bài nhạc từ miền Huế đưa vào.
Như vậy, theo ông, Dạ cổ hoài lang không phải là một sáng tác toàn diện. Nó có tính cách truyền thừa từ cái đã có trước đó. Cũng từ đó phải nói rằng bài Vọng cổ không phải là sáng tác của ông Cao Văn Lầu, nhưng là một sáng tác tập thể, gần như vô danh, lấy cơ sở 20 câu trong hai bài Hành vân và Dạ cổ hoài lang. Tôi không ngạc nhiên về điều này, vì đó là trạng thái của nhạc truyền thống không riêng gì ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới, nhất là ở những nơi phương pháp truyền khẩu được đưa lên hàng đầu. Chỉ cần ký âm 6 câu đầu ấy (nhịp đôi) và so với 6 câu Vọng cổ hiện nay (nhịp 32), không một nhạc sĩ hay nhà âm nhạc học nào có thể bảo nó giống nhau, ngoại trừ nốt cuối (lại còn thấy một chút xê dịch nữa). Thiển ý của tôi, sau khi nghe ông lý giải, thì nếu chúng ta trân trọng nhạc sư Sáu Lầu thì cũng phải trân trọng hằng triệu người có công đóng góp và thể hiện bài Vọng cổ, hay nói đúng hơn là cả cộng đồng âm nhạc dân tộc đã sáng tạo ra động cơ phát triển như vậy.
Nói đến Vọng cổ không thể không nhắc đến cải lương, vì nó trở thành bài nòng cốt nhất hiện nay. Nhưng có gì khác biệt giữa cải lương và đờn ca tài tử? Chúng ta thỉnh thoảng nghe nói biểu diễn “đờn ca tài tử - cải lương”, hai từ đi chung nhau. Trong thư trả lời Giáo sư Nhạc sĩ Tô Vũ (ngày 21.12.1993), ông trao đổi hai khía cạnh của vấn đề về (1) cơ bản nhạc truyền thống Việt Nam và (2) sự khác biệt giữa đờn ca tài tử và cải lương: Một câu hỏi mà tôi thường đặt ra cho chính bản thân: Làm thế nào để phân tách một bản đàn tài tử Nam Bộ khi mà tôi không déchiffrer được qua cái cách chép bản hò xự xang xê cống thô sơ, có tính cách chung chung, không ghi rõ trường độ của nốt (durée des notes), cường độ (intensité), cách diễn tấu (manière d'exécution), nốt đàn không có một cao độ tuyệt đối (hauteur determinée absolute pitch)? Giờ chỉ còn cách thứ hai là nhờ một nhạc sĩ nào đó đàn để mà ghi. Nhưng khổ thay bản gốc từ nhịp đôi giờ thành nhịp tư, nhịp tám, mỗi nhạc sĩ phát triển, vẽ vời một kiểu. Chưa kể đến cây đàn guitare lõm phím là loại đàn mà tiền nhân không có soạn ra thành bản, nó chỉ dựa vào bản của đàn kìm, nhái phong cách của đàn xến. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Lòng cảm thấy thương cho những người bõ công lặn lội nghiên cứu trong hoàn cảnh đi trong đêm ba mươi không đèn!



