Khác

THẾ LỮ - CỐNG HIẾN CHO CÁCH MẠNG BẰNG NGHỆ THUẬT

Thế Lữ (1907-1989) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch và nhà hoạt động sân khấu người Việt Nam. Thế Lữ nổi danh trên văn đàn vào những năm 1930, với những tác phẩm Thơ mới, đặc biệt là bài Nhớ rừng, cùng những tác phẩm văn xuôi, tiêu biểu là tập truyện Vàng và máu.

Hà Nội30/10/2026Phường Chơn Thành (Đoàn phường Chơn Thành)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
THẾ LỮ - CỐNG HIẾN CHO CÁCH MẠNG BẰNG NGHỆ THUẬT

Cuộc đời của Thế Lữ tuy là một tên tuổi lớn, nhưng lại gặp lắm thăng trầm, vừa là tráng ca, vừa là bi khúc. Mẹ ông lớn lên trong một gia đình Công giáo tại thành phố Hải Phòng, nhưng vì không phải là vợ chính thức nên ngay từ khi Thế Lữ mới sinh được vài tháng, ông phải xa mẹ lên tận Lạng Sơn ở với gia đình bên nội. Năm 11 tuổi (1918), sau khi người anh ruột từ trần, ông về Hải Phòng ở với mẹ. Tại đây, ban đầu ông học một trường tư do cha của Vũ Đình Quý - người bạn thân đầu tiên của ông. Ít lâu sau, ông xin vào học lớp Đồng ấu của trường Pháp Việt (École communale) mới mở ở Ngõ Nghè. Năm 1924, ông thi đỗ Sơ học (cepfi) nhưng bị ốm và được mẹ cho dựng một căn nhà lá cạnh Đồ Sơn để chữa bệnh từ đó bắt đầu tập trung vào viết văn cũng như làm thơ.

Một năm sau, Thế Lữ theo học tại Trường Bonnal (tức Trường THPT Ngô Quyền ngày nay). Những năm học Thành chung, ông chịu tác động từ tinh thần yêu nước của giới học sinh qua báo "Việt Nam hồn" từ Pháp gửi về cũng như từ những thầy giáo đã dạy ông. Tháng ngày thơ bé sống trong xa cách mẹ sớm trải qua nhiều cung bậc cảm xúc nên dường như tâm hồn của Thế Lữ luôn hướng đến những điều lãng mạn. Trong thơ, Thế Lữ có những câu như họa về mình - một người lãng du đam mê cái đẹp: "Tôi là người bộ hành phiêu lãng/ Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi…" hay "Tôi chỉ là một khách tình si/ Ham vẻ đẹp muôn hình muôn thể…" (Cây đàn muôn điệu). Năm 1928, ông đã tham gia hoạt động trong tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội chi nhánh Hải Phòng. Cũng trong năm đó, khi đang học năm thứ ba Thành chung, nhân dịp Hội Trí tri Hải Phòng tổ chức quyên tiền xây dựng sân bóng, Thế Lữ đóng vai lão Quý trong vở kịch "Lọ vàng" - do Mai Phương phóng tác từ "Cái nồi" (La marmite) của Plautus, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Hoàng Ngọc Phách và được Vi Huyền Đắc với Nguyễn Hữu Kim hết lời khen ngợi. Sau này, ông chọn hoạt động nghệ thuật để cống hiến cho cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc.

Cũng tại nơi đây, Thế Lữ đã lập gia đình với bà Nguyễn Thị Khương - người vợ đầu hơn ông hai tuổi. Hai người có với nhau bốn người con (ba trai một gái), trong đó người con cả là Nguyễn Đình Nghi về sau đã tham gia kháng chiến cùng cha, được đích thân cha trực tiếp truyền nghề sân khấu rồi cuối cùng ở lại miền Bắc và trở thành một trong những đạo diễn tiêu biểu của nền sân khấu hiện đại của Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX và được phong tặng danh hiệu "Nghệ sĩ nhân dân". Nơi đây còn chứng kiến Thế Lữ mở đầu cuộc khai phá lĩnh vực viết tiểu thuyết trinh thám; từ Hải Phòng, ông viết những tác phẩm như: "Bên đường Thiên Lôi" và "Gói thuốc lá". Dù sau này tập truyện ngắn chọn lọc của ông được xuất bản và đánh giá là "người có tài quan sát có óc phân tích sắc sảo và có trí tưởng tượng hết sức phong phú", ông vẫn rất khiêm tốn tự 'giữ mình': "Thế Lữ anh chàng thật cừ khôi/ Sống hôm nay chẳng biết có ngày mai/ Giữa trưa hè vịnh cảnh đêm đông/ Ở Đồ Sơn nói chuyện trên rừng/ Đến khi lên thượng du có lẽ/ Lại nghĩ chuyện ngẩn ngơ dưới biển".

Nói về sự nghiệp của Thế Lữ, trước hết phải khẳng định, ông là một nhà thơ lớn, một nhà văn tài danh. Ông là người tiên phong, người mở đường cho phong trào Thơ Mới và cũng là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất. Bước ngoặt với văn chương của Thế Lữ là khi ông bắt tay vào viết tiểu thuyết trinh thám "Một truyện báo thù ghê gớm" và "Tiếng hú hồn của mụ Ké" nhận được sự cổ vũ của những người trong nghề, là động lực để ông gắn bó với sự nghiệp viết và bỏ ngang Trường Mỹ thuật Đông Dương, thôi mộng làm họa sĩ. Ông viết rất nhiều, cả thơ và văn xuôi thế nhưng chỉ cần nhắc đến "Nhớ rừng" (thơ), "Vàng và máu" (văn xuôi) là đủ để tôn vinh ông về sự nghiệp văn chương. Không chỉ sáng tác thơ, tiểu thuyết, ông còn làm báo, phê bình văn học – những công việc sử dụng đến ngôn từ. Dù ở bất cứ cương vị vai trò nào, Thế Lữ cũng nhận được những thành công nhờ tài năng, niềm say mê và một cảm xúc phong phú.

Ông được coi là người đặt nền móng cho ngành kịch nói Việt Nam. Mặc dù chính thức đến với kịch nghệ sau khi đã thỏa chí với văn chương nhưng Thế Lữ sớm có dịp tiếp cận với loại hình này khi còn là học sinh ở Hải Phòng từ năm 1923. Kịch nói giúp ông lần nữa được đắm chìm trong con đường tìm đến cái đẹp, trở thành người đầu tiên đưa kịch nói vào sân khấu truyền thống. Chỉ bằng tự học, tự tìm hiểu về kịch nói, ông đưa loại hình nghệ thuật này của Việt Nam trở nên hấp dẫn người xem. Ông say mê học hỏi sân khấu kịch của phương Tây, tiếp thu những tinh hoa kịch nghệ của họ để phát triển sân khấu nước nhà.

Vốn là người có xu hướng kiếm tìm cái đẹp hoàn mỹ trong nghệ thuật, nên ông cực lực phản đối những hoạt động biểu diễn phong trào mà coi nhẹ chất lượng vở kịch. Với mong muốn làm khởi sắc cho sân khấu kịch Việt Nam, ông thành lập ban kịch Tinh Hoa. Tinh Hoa thu hút đông đảo các văn nghệ sĩ, kịch sĩ, họa sĩ tham gia và nhờ cách làm bài bản, trở thành ban kịch đầu tiên của Việt Nam hoạt động chỉ với mục đích phụng sự nghệ thuật. Sau Tinh Hoa, ông gây dựng ban kịch Thế Lữ - Anh Vũ với những vở diễn gây nhiều tiếng vang. Càng làm nghề, ông càng tỏ ra là người có tài năng ở lĩnh vực này. Thế Lữ trở thành tên tuổi tiếng tăm và có uy tín, được chào đón và chờ đợi ở các sân khấu Hà Nội cũng như Hải Phòng thời đó. Ông không chỉ làm tốt vai trò đạo diễn, mà còn đảm nhận nhiều vai chính trong các vở Gái không chồng, Sau cuộc khiêu vũ, Ông Ký Cóp được người xem ủng hộ. Thế Lữ được giới làm kịch coi trọng, kính nể. Khi ban kịch Thế Lữ ra đời, ông cùng anh em trong ban kịch còn đặt ra những quy định về tác quyền, chế độ thù lao cho diễn viên và các thành viên khác, đưa kịch nói Việt Nam lần đầu trở thành một nghề chuyên nghiệp và người nghệ sĩ sống được với nghề.

Với những lao động nghệ thuật nghiêm túc và những đóng góp không mệt mỏi cho sân khấu kịch, năm 1957, khi Hội Nghệ sĩ sân khấu được thành lập, Thế Lữ trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội. Ông cũng là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, là đại biểu Quốc hội khóa II. Trong sự nghiệp của Thế Lữ, sẽ là thiếu sót nếu không nói đến lĩnh vực dịch thuật. Khi giãn dần các hoạt động biểu diễn trên sân khấu kịch, ông bắt đầu chú tâm vào dịch nhiều kịch bản và tư liệu sân khấu. Năm 1984, ông được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân. Nhà văn – Nghệ sĩ nhân dân Thế Lữ là người có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển văn học, sân khấu Việt Nam nói chung và sự nghiệp phát triển nghệ thuật của Hải Phòng nói riêng. Ông được trân trọng giới thiệu trong cuốn "Nhà văn Hải Phòng – Chân dung và tác phẩm". Ngày nay, để tưởng nhớ nhà văn – nghệ sĩ nhân dân Thế Lữ, trên đất Cảng có một con đường ẩm thực sầm uất đông vui mang tên ông ở khu vực Hạ Lý thuộc phường Hồng Bàng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn