Thế “Nghìn cân treo sợi tóc” và chủ trương của Đảng
Sau khi giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, ngày 02/9/1945, tại Hà Nội, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy độc lập đã giành được, nhưng Việt Nam ngay lập tức phải đối mặt với vô vàn khó khăn và thách thức về mọi mặt.
Sau khi giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, ngày 02/9/1945, tại Hà Nội, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tuy độc lập đã giành được, nhưng Việt Nam ngay lập tức phải đối mặt với vô vàn khó khăn và thách thức về mọi mặt.
Về quân sự, ở miền Bắc, theo thỏa thuận của phe Đồng Minh, 20 vạn quân đội Trung Hoa dân quốc tràn vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Tuy nhiên, đội quân này âm mưu câu kết với các thế lực phản động người Việt, chủ yếu trong các đảng phái Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Quốc, Việt Cách) để lật đổ chính quyền cách mạng.
Ở miền Nam, được sự hậu thuẫn của Anh, quân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam từ ngày 23/9/1945 tại Sài Gòn, sau đó từng bước mở rộng đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung Bộ.
Về kinh tế, hậu quả của chiến tranh, thiên tai, nhất là nạn đói cuối năm 1945, khiến đất nước lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng.
Về chính trị, bộ máy chính quyền cách mạng còn non yếu, chưa được củng cố vững chắc và chưa được quốc tế công nhận rộng rãi.
Đó là bên trong, còn bên ngoài, Pháp và Trung Hoa Dân quốc “bắt tay” thỏa hiệp quyền lợi “trên lưng” Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết ngày 28/2/1946. Trong khi quân đội Trung Hoa dân quốc còn đang hiện diện ở miền Bắc, Pháp đã tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp ước Hoa - Pháp với chính quyền Tưởng Giới Thạch.
Đó là sự thỏa hiệp, chia chác quyền lợi, không đếm xỉa gì đến vai trò của cách mạng Việt Nam. Pháp nhượng lại cho Trung Hoa dân quốc một số quyền lợi kinh tế ở Trung Quốc và các tô giới tại Việt Nam, đổi lại, quân đội Trung Hoa dân quốc chấp nhận cho quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay thế mình để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật.
Điều đó đặt Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào thế khó xử, cụ thể là nguy cơ đối đầu cùng lúc nhiều kẻ thù. Nếu Pháp đưa quân ra miền Bắc theo Hiệp ước Hoa - Pháp, Việt Nam sẽ phải đối mặt với quân Pháp ở miền Nam, cũng như quân Pháp và quân đội Trung Hoa dân quốc còn nấn ná chưa rút đi, cùng các lực lượng tay sai ở miền Bắc. Điều này vô cùng bất lợi cho lực lượng cách mạng còn non trẻ.
Đứng trước tình thế đó, Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy cần phải có một sách lược khéo léo để tránh rơi vào thế bất lợi khi lực lượng ta chưa đủ mạnh.
Nhận định tình hình. Đảng ta cho rằng rằng Pháp đang cần Việt Nam để giải quyết vấn đề hậu chiến với quân đội Trung Hoa dân quốc, còn Trung Hoa dân quốc thì muốn trao đổi quyền lợi để Pháp đưa quân vào miền Bắc. Đây là cơ hội để ta phá vỡ liên minh Pháp - Hoa, chỉ tập trung đối phó với kẻ thù chính là thực dân Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Jean Sainteny (đứng giữa) đại diện Chính phủ Pháp cùng đại diện các nước Đồng minh nghe đọc văn bản Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 trước khi ký kết (Ảnh tư liệu. BTLSQG)
Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương hòa hoãn tạm thời với Pháp để “đuổi” quân đội Trung Hoa dân quốc ra khỏi miền Bắc, giành thêm thời gian hòa bình để củ ng cố lực lượng, chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài.
Chủ trương “hòa để tiến” không có nghĩa là từ bỏ độc lập, mà là tạm thời nhân nhượng để tạo điều kiện, tranh thủ thời gian, nhằm đạt được mục tiêu cao hơn là độc lập hoàn toàn và thống nhất đất nước.
Chính trong bối cảnh lịch sử cấp bách, phức tạp và đầy nguy nan đó, Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946 đã ra đời như một giải pháp chính trị, ngoại giao sáng suốt, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.



