rongxanh Thành viên  Bài viết: 2085 Mơ về nơi xa lắm. | 
| Re: Theo Vết xích xe tăng - Tập 1« Trả lời #2 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2008, 08:13:31 am » | TÔI LÀ CHIẾN SĨ XE TĂNG
Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm, Nguyên Tư lệnh Binh chủng (1971 - 1974)
Trong đời Anh Bộ đội Cụ Hồ, tôi được vinh dự làm Tư lệnh hai Binh chủng Quân đội Nhân dân trong những thời kỳ quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Sau nhiều năm công tác và chiến đấu ở Binh chủng Pháo binh, đầu năm 1971, tôi được điều động về làm Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp, hiện nay là Tăng - Thiết giáp: Tư lệnh đầu tiên của một Binh chủng vào loại hiện đại của Lục quân, nỗi lo chủ yếu của tôi là chưa được học chuyển binh chủng theo thông lệ. Nhưng cấp trên đã biết trước và động viên khi giao nhiệm vụ: Đồng chí tuy chưa được học về xe tăng, nhưng đã có kinh nghiệm tham gia xây dựng và chiến đấu nhiều năm ở Bộ đội Pháo binh (1955 - 1970). Cũng là một binh chủng chiến đấu có trang bị kỹ thuật cao, đồng chí có thể phát huy những kinh nghiệm đã có vào nhiệm vụ mới.
Đúng là tăng và pháo đều là xe pháo. Tôi cũng đã từng ngồi học tập trong xe xích, loại để vận chuyển đồng thời cũng là bệ phóng của tên lửa đất đối đất. Nhưng tăng vẫn là lực lượng xung kích, còn pháo là hoả lực để chi viện. Cả hai đều là lực lượng cùng hợp đồng chiến đấu với bộ binh (hoặc bộ binh cơ giới), bộ binh cơ động và chiến đấu trên xe và cả hai đều có thể độc lập chiến đấu như ta vẫn sử dụng trong chiến tranh và tôi đã suy nghĩ bí quyết thành công của ta là vừa làm vừa học, thực tế không cho phép ta có đủ cán bộ từ nhà trường binh quân chủng nào sử dụng vào quân binh chủng đó?
Tôi tản mạn nghĩ những ngày sắp đến, khi bộ đội Tăng - Thiết giáp diễn tập để chuẩn bị lên đường vào Nam chiến đấu.
Tôi tin tưởng bộ đội Tăng - Thiết giáp cũng như toàn quân, toàn dân quyết tâm thực hiện Di chúc của Bác "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Phải bắt tay ngay vào nhiệm vụ mới. Khi về đến cơ quan Bộ Tư lệnh ở Vĩnh Yên, các đồng chí Lê Ngọc Quang, chính uỷ, Dương Đằng Giang, tham mưu trưởng đã thông báo vắn tắt tình hình Binh chủng và cho biết ý định của các đồng chí trong Bộ tư lệnh là tôi sẽ vào tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào ngay. Đã có bộ phận vào trước, gồm các đồng chí Lê Xuân Kiện, tham mưu phó, Đào Văn Xuân, chủ nhiệm chính trị và một số trợ lý tham mưu, chính trị, hậu cần và kỹ thuật.
Bộ đã quyết định sử dụng ba tiểu đoàn. Tất cả đều đã vào vị trí tập kết trên Đường 9 - Quảng Trị. Đã tham gia đánh thắng một trận hiệp đồng rồi. Tôi rất xúc động về sự tín nhiệm của anh em.
Trên đường vào chiến dịch, tôi suy nghĩ vài mẩu chuyện anh em đã kể về Binh chủng thời gian trước ngày ra quân đánh thắng trận đầu : Tà Mây - Làng Vây trong chiến dịch Khe Sanh - Đường 9 mùa xuân Mậu Thân 1968.
Câu chuyện xe tăng ta chưa xuất trận được thì người ra trận trước. Những đoàn cán bộ bao gồm cả cấp tiểu đoàn, đại đội, trưởng xe, lái xe, pháo thủ… đã lên đường vào Nam từ 1964 và 1965, khi Mỹ bắt đầu đưa quân xâm lược nước ta. Nhiệm vụ của đoàn là tham gia chiến đấu bộ binh với yêu cầu là lấy xe địch đánh địch. Đoàn còn có nhiệm vụ nghiên cứu thực tế chiến trường, chuẩn bị đón xe tăng của ta vào, khi đường Trường Sơn thông xe cơ giới. Và phải đến cuối năm 1971, tiểu đoàn xe tăng đầu tiên mới vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên sau đó thời cơ đến, lực lượng xe tăng đi tiếp đến Lộc Ninh miền Đông Nam Bộ.
Rồi chuyện: Xe tăng chưa đi chiến đấu được thì niêm cất xe vào kho, nhận pháo cao xạ 37 li về học chuyển binh chủng cấp tốc, để tham gia bắn máy bay giặc Mỹ cùng quân dân miền Bắc. Hành động này của hàng chục đại đội xe tăng đã lập thành tích bắn rơi máy bay, được khen thưởng. Nhưng khi có lệnh phải trả pháo cao xạ để trở về với xe tăng, chuẩn bị hành quân vào chiến trường.
Suy nghĩ chuyện trên, tôi càng mến càng phục tính kỷ luật và tinh thần chiến đấu của chiến sĩ xe tăng.
Vào đến Sở chỉ huy chiến dịch của Bộ, tôi tìm vào vị trí của Binh chủng. Tôi đã có kinh nghiệm khi còn ở Pháo binh đi tham gia chiến dịch của Bộ như thế này và cũng quen biết hầu hết cán bộ cao cấp như anh Vũ Lăng, Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, là Tham mưu trưởng chiến dịch, anh Doãn Tuế, Tư lệnh Pháo binh, anh Hoàng Văn Khánh, Tư lệnh Phòng không... vốn là bạn chiến đấu trong suốt hai cuộc kháng chiến, hôm nay đều là tham mưu binh quân chủng chiến dịch như tôi...
Binh chủng Tăng - Thiết giáp trong chiến dịch này đã trực tiếp tham gia 2 trận đánh hiệp đồng thắng lợi: trận tiêu diệt cao điểm 543 của Đại đội 9 Tiểu đoàn 198 Trung đoàn 203 phối thuộc cho Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 (Tấn công tiêu diệt Sở Chỉ huy Lữ đoàn 3 nguỵ bắt sống đại tá lữ trưởng Nguyễn Văn Thọ). Trận thứ 2 là trận tấn công lữ TQLC 147 (nguỵ) phòng ngự điểm cao 550 thuộc vùng rừng núi gần biên giới Việt - Lào, về phía Tây Nam (Lao Bảo - Quảng Trị). Tôi đã trực tiếp đôn đốc đại đội tăng vào tăng cường cho Sư đoàn 324 thuộc Quân khu Trị Thiên - Huế do đồng chí Nam Long trực tiếp chỉ huy. Nỗi mừng gặp anh qua điện thoại, trao đổi với anh chuẩn bị đón đại đội tăng bước vào chiến đấu ngay để kịp thời cơ diệt địch. Tôi lại động viên Đại đội 3 Tiểu đoàn 397 Trung đoàn 202 đang cấp tốc hành quân suốt đêm vào kịp hiệp đồng tiêu diệt Lữ đoàn Thuỷ quân lục chiến ngụy, kết thúc thắng lợi chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.
Đây là một trận chiến đấu hiệp đồng giữa đơn vị tăng và sư đoàn bộ binh rất quen thuộc với tôi ở chiến trường Trị Thiên - Huế, có lịch sử từ những trung đoàn chủ lực của Liên khu 5, trong thời chống Pháp, mà còn có thời kỳ tôi là Tư lệnh. Nhớ lại những ngày đã cùng sư trưởng Chu Phương Đới và chính uỷ Nguyễn Ân của Sư đoàn 324 hành quân chiến đấu trên giải đất Trị Thiên – Huế. Còn anh Nam Long đã cùng chiến đấu ở Cực Nam Trung Bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và cùng trong Bộ Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế 3 năm trước đây (1968 - 1970).
Cuộc gặp mặt hiệp đồng, tuy chỉ trên điện thoại với nhau giữa tăng và bộ binh để lại cho tôi một kỷ niệm sâu sắc.
Kết thúc chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, sau ~ 52 ngày chiến đấu (31 - 1 - 1971 đến 23 - 3 - 1971). Một chiến dịch toàn thắng của khối chủ lực của Trung ương, trong đó có đủ các Binh Quân chủng trực tiếp tham gia cùng Binh đoàn B70 và các lực lượng tại chỗ của Quân khu 4, Quân khu Trị Thiên - Huế và 559. Trở về Vĩnh Yên, doanh trại của Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp, tất cả chúng tôi bắt tay vào một loạt công tác chuẩn bị cho năm 1972: Tổng kết hoạt động chiến đấu của Binh chủng trong năm 1971 chuẩn bị lực lượng cho các chiến trường toàn miền Nam, vì dự kiến đường Trường Sơn sẽ thông xe để đưa xe tăng vào Khu 5 và Nam Bộ.
Bộ Tư lệnh Binh chủng đã mở Hội nghị Tổng kết những trận chiến đấu hiệp đồng ở cả chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và Cánh đồng Chum. Đại diện của Bộ và đại biểu các cơ quan của Tổng cục, các binh quân chủng bạn đều về dự, tham gia nhiều ý kiến về kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng với tăng. Bản tổng kết của Binh chủng đã được báo cáo tại Hội nghị Tập huấn của Bộ, Hội nghị Quân chính chuẩn bị cho cuộc tấn công chiến lược năm 1972 trên các chiến trường miền Nam.
Binh chủng được viện trợ trang bị mới: T54B, và đặc biệt lần đầu tiên có thêm các loại xe thiết giáp bánh xích bánh hơi lội nước, xe chở bộ binh chiến đấu, xe chỉ huy, xe bảo đảm kỹ thuật.
Bộ giao cho Binh chủng nghiên cứu tổ chức đơn vị bộ binh cơ giới cùng xe tăng chiến đấu hiệp đồng, có các binh chủng chi viện và bảo đảm như cao xạ công binh... Sau nhiều cuộc hội thảo về tổ chức trang bị xây dựng đơn vị bộ binh cơ giới đầu tiên cho quân đội ta và được Bộ quyết định.
Tôi muốn nói vài cảm nghĩ trong trận thọc sâu vu hồi của Tiểu đoàn 66 Trung đoàn bộ binh cơ giới 202 (A7) hiệp đồng cùng Trung đoàn bộ binh 27 ngày 28-4-1972 và trận phản kích diệt Lữ ngụy 147 ở Nam Cửa Việt cũng của Tiểu đoàn 66 phối hợp cùng Trung đoàn bộ binh 101 Sư đoàn 325 từ ngày 26 đến 31- 1 - 1973. Tôi nghĩ bộ binh cơ giới sử dụng ở phía đông Quảng Trị, trên địa hình bãi cát trống trải sát biển, đã phát huy tác dụng được như thế thật đáng mừng. Sau ngày ký Hiệp định ngừng bắn, anh Nguyễn Tất Tài lữ trưởng Lữ đoàn xe tăng 203 đã đưa tôi đi xem suốt từ Cửa Việt lên Lao Bảo, vào Triệu Phong dọc những đồi cát Hải Lăng lên Đông Hà. Hai anh em trên cùng một chiếc xe thiết giáp chỉ huy, anh Tài đã kể lại diễn biến một số trận đánh và rất tâm đắc trong tác dụng tăng - thiết giáp mở đầu cho tương lai bộ binh cơ giới làm nhiệm vụ thọc sâu 1 chiến dịch, chiến thuật vào sào huyệt địch.
A7 không đạt được kết quả như mơ ước, nhưng đã mở đường cho việc phát huy sức mạnh của hiệp đồng binh chủng của người chỉ huy từ chiến dịch đến chiến đấu trong trách nhiệm tạo điều kiện cơ động cao cho tăng thiết giáp vu hồi thọc sâu.
Kết thúc thắng lợi cuộc tấn công chiến lược năm 1972 trong 2 năm 1973 - 1974, bao nhiêu công việc đều tập trung theo hướng giải phóng hoàn toàn miền Nam theo những Nghị quyết của Đảng. Một số cán bộ được cấp trên bố trí đi học nước ngoài. Đồng chí Đào Huy Vũ, Phó Tư lệnh, Lê Xuân Kiện, tham mưu phó và một số cán bộ tham mưu và chỉ huy. Một đoàn do đồng chí Đào Văn Xuân, Phó Chính uỷ tham gia đoàn cán bộ của Bộ vào nắm tình hình chiến trường để có kế hoạch bổ sung tăng cường cho lực lượng phía Nam. Bộ Tư lệnh và các cơ quan xuống các đơn vị chiến đấu đã ra phía Bắc để bổ sung quân số trang bị, tổ chức tổng kết chiến đấu. Bộ Tư lệnh cũng tiến hành Tổng kết và tham dự Tổng kết của Bộ.
Tất cả trên dưới, ở Bộ cũng như ở Binh chủng, 1 một không khí nhộn nhịp, khẩn trương, nỗ lực chuẩn bị cho kế hoạch giành thắng lợi quyết định, đúng theo ý nghĩa của Di chúc Bác Hồ! Chúng tôi được phổ biến Nghị quyết của Bộ chính trị trước tình hình mới, tranh thủ giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất!
Tôi muốn ghi lại một hình ảnh có ý nghĩa lịch sử sâu sắc với tôi: Hội nghị chuẩn bị kế hoạch xây dựng và phát triển lực lượng Tăng -Thiết giáp để giành toàn thắng! Hội nghị do đồng chí Hoàng Văn Thái, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì. Đồng chí đã chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Thiết giáp phải gấp rút. chuẩn bị một bản dự thảo kế hoạch báo cáo với Đoàn công tác của Bộ.
Đồng chí Hoàng Văn Thái đã nhiều năm ở cương vị Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, từ sau khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh qua đời. Sau Hiệp định Paris, đồng chí trở lại công tác Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tại miền Bắc và được Quân uỷ Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị kế hoạch kiện toàn và phát triển lực lượng Quân giải phóng miền Nam, theo Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương.
Trọng tâm của kế hoạch là tập trung giải quyết bằng được nhiệm vụ kiện toàn các trung lữ đoàn Tăng - Thiết giáp đang đứng chân từ Quảng Trị trở vào và các lữ đoàn Tăng - Thiết giáp cho các Quân đoàn sẽ phát triển ở Trị Thiên - Huế và Tây Nguyên.
Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng đã phân công tôi cùng anh em tham mưu chuẩn bị dự thảo kế hoạch để Thường vụ thông qua trước khi làm việc với Đoàn công tác của Bộ.
Chúng tôi có thuận lợi đã đi xuống các đơn vị chiến đấu đã ra phía Bắc để củng cố, tình hình các đơn vị ở Tây Nguyên, Nam Bộ (đoàn đồng chí Đào Văn Xuân, Phó Chính uỷ Binh chủng tham gia đoàn công tác của Tổng cục Chính trị vào trực tiếp nắm chắc).
Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng có mấy đồng chí tham gia họp là: Phạm Sinh, Nguyễn Thế Lâm, Đào Văn Xuân và Trịnh Hoàng Đỉnh. Đoàn của Bộ do đồng chí Hoàng Văn Thái dẫn đầu gồm có đồng chí: Lê Ngọc Hiền, Cục trưởng Cục Tác chiến, Giáp Văn Cương, Cục trưởng Cục Quân lực, Cao Văn Khánh, Cục trưởng Cục Quân huấn.
Đoàn về làm việc ngay tại Bộ Tư lệnh Binh chủng trong một tuần. Bố trí kế hoạch như vậy, đoàn cũng có ý định để thời gian đi xem các trang bị Tăng - Thiết giáp loại mới được viện trợ và cùng trao đổi với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh để thông qua một kế hoạch sát thực với tình hình đang rất khẩn trương. Tôi đã nhiều năm trực tiếp công tác với đồng chí Hoàng Văn Thái: tham gia chiến dịch Hoà Bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1952 bên cạnh đồng chí Võ Nguyên Giáp Tư lệnh chiến dịch, đồng chí là Tham mưu trưởng. Trong kháng chiến chống Mỹ là cấp Tư lệnh Binh chủng, Tư lệnh Chiến trường cũng đã trực tiếp là cấp dưới của đồng chí. Chúng tôi rất mến phục tác phong công tác sâu 1 sát luôn gần gũi, kiên trì nghe ý kiến cấp dưới, tôn trọng kinh nghiệm thực tiễn của cấp dưới để quyết định những vấn đề quan trọng. Làm việc với Đoàn, tôi trình bày bản dự thảo kế hoạch và các đồng chí trong Thường vụ đã bổ sung thêm những vấn đề cần thiết, nhất là tình hình các đơn vị ở sâu trong miền Nam, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ trong khu giải phóng của ta có điều kiện bảo đảm kỹ thuật.
Sang những ngày tiếp theo, cuộc trao đổi ý kiến sôi nổi trên từng vấn đề: kiện toàn cho mỗi khu vực một trung đoàn Tăng - Thiết giáp trên cơ sở những tiểu đoàn và trung đoàn đã có. Lấy kinh nghiệm tổ chức lữ đoàn cơ giới Tăng - Thiết giáp đầu tiên cho Quân đoàn I, quân đoàn đầu tiên của quân đội ta, đề nghị với Bộ có phương án phát triển các lữ đoàn cơ giới tiếp theo trên cơ sở những lữ đoàn tăng cho những quân đoàn mà triển vọng sẽ nhanh chóng phát triển tiếp sau Quân đoàn I.
Tinh thần thảo luận của những ngày làm việc đều hướng theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị, tất cả vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong 1 - 2 năm tới, lực lượng phải sẵn sàng để khi có thời cơ thì giải phóng ngay trong năm tới!
Thời cơ do ta tạo nên, nhân dân miền Nam và cả nước đã sẵn sàng. Ta phải tạo thế và lực. Thế ở tình hình chung trên thế giới, trong nước, đặc biệt trên chiến trường. Lực phải do chúng ta quyết tâm tạo nên, hành động của Binh chủng là một đóng góp cùng toàn quân toàn dân tạo thế và lực để giành toàn thắng. Hội nghị đã tiến hành và kết thúc trong không khí lạc quan tin tưởng nhưng không ai nghĩ ngày ấy đã đến nhanh trong chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng vào ngày 30 – 4 - 1975.
Đầu năm 1975 tôi được điều về Hội đồng Khoa học Quân sự của Bộ. Trưa ngày 30 – 4 - 1975 đồng chí Tổng Tư lệnh vui mừng thông báo xe tăng ta đã vào Dinh Tổng thống nguỵ quyền, treo cờ Giải phóng. Thời gian qua đi tôi không bao giờ quên những kỷ niệm sâu nặng về Binh chủng Tăng - Thiết giáp yêu quý của mình, tôi muốn nói lên niềm tự hào của “Một chiến sĩ xe tăng!” |