Bài viết

“Thị Nghè – Ngọn lửa đầu tiên của Sài Gòn kháng Pháp”

Giữa thế kỷ XIX, Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ mang trong mình một vẻ trầm lặng của phương Nam, nơi sông nước chan hòa nhưng bão tố chính trị âm ỉ cuộn lên từng ngày. Những cánh đồng lúa phì nhiêu trải đến tận chân trời, những con rạch đan chằng chịt như mạch máu nuôi sống cả miền đất mới. Nhưng chính những con sông ấy, những cây cầu ấy, sớm muộn gì cũng trở thành chiến trường khốc liệt.

Hưng Yên02/12/2025Nguyễn Thị Ngoan (Trường TH và THCS Tây Đô)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Thị Nghè – Ngọn lửa đầu tiên của Sài Gòn kháng Pháp”

Giữa thế kỷ XIX, Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ mang trong mình một vẻ trầm lặng của phương Nam, nơi sông nước chan hòa nhưng bão tố chính trị âm ỉ cuộn lên từng ngày. Những cánh đồng lúa phì nhiêu trải đến tận chân trời, những con rạch đan chằng chịt như mạch máu nuôi sống cả miền đất mới. Nhưng chính những con sông ấy, những cây cầu ấy, sớm muộn gì cũng trở thành chiến trường khốc liệt.

Khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng đánh Đà Nẵng năm 1858, tiếng đại bác vượt ngàn dặm, vọng đến tận phương Nam. Triều đình nhà Nguyễn rối ren, chia rẽ và bị động. Người dân Sài Gòn thì chỉ biết rằng một ngày nào đó, vòng lửa sẽ đến cửa ngõ của họ.

Và họ đã đoán đúng.

Từ đầu năm 1859, sau khi thất bại trong ý định đánh nhanh thắng nhanh ở Đà Nẵng, Pháp chuyển hướng vào Gia Định – vùng đất màu mỡ, quan trọng về quân sự, kinh tế và giao thông. Chúng biết rằng chỉ cần chiếm được Gia Định thì cả Nam kỳ sẽ mở toang cánh cửa.

Trận đánh Cầu Thị Nghè, vì thế, trở thành một trong những điểm then chốt, giữ vai trò như chiếc then cửa cuối cùng trước khi Sài Gòn bị uy hiếp trực diện.

Cầu Thị Nghè, bắc qua con rạch mang cùng tên, nối khu vực trung tâm Sài Gòn với vùng đất phía đông. Xưa, đây là tuyến giao thông huyết mạch dẫn từ Sài Gòn ra Gia Định – Thủ Đức – Biên Hòa. Bất cứ đạo quân nào muốn tiến vào thành Gia Định đều phải đi qua cửa ngõ này.

Từ thời Chúa Nguyễn, Thị Nghè đã là bến nước đông đúc. Người dân quen với tiếng chèo khua sớm chiều, tiếng rao quà bánh, tiếng lục bình trôi lặng lẽ. Không ai ngờ rằng một ngày, nơi bình yên ấy sẽ đỏ rực lửa như một lò luyện thép khổng lồ.

Vị trí của cầu nằm trên tuyến phòng thủ vốn không quá dày đặc, vì triều đình coi vùng Nam Kỳ là “phía ngoài xa”, dễ phòng ngự bằng sông rạch tự nhiên. Nhưng khi quân Pháp thọc sâu vào vùng biển, những tính toán ấy lập tức trở nên mong manh.

Tại Thị Nghè, quân đội triều đình Nguyễn – chủ yếu là lính cơ, lính thủy và nghĩa dân địa phương – nhanh chóng dựng công sự, dàn pháo, lập lũy. Họ biết rằng nếu Thị Nghè thất thủ, cửa Thành Gia Định sẽ mở, và Sài Gòn sẽ bị dồn vào thế nghẹt thở.

Rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1859, sau khi nổ súng đánh vào cửa biển Cần Giờ, tàu chiến Pháp áp sát Sài Gòn. Đại bác trên tàu “Phlégéton”, “Primauguet”, “Avalanche”… bắt đầu dội lửa xuống những vị trí phòng thủ ven sông.

Người dân Thị Nghè kể lại rằng:

“Sông sáng rực như ban ngày, nước sông bốc hơi vì đạn nóng, lửa cuộn lên từng mảng như cháy rừng.”

Pháp muốn đánh nhanh để tiến thẳng vào thành Gia Định. Nhưng họ không ngờ rằng trước cây cầu nhỏ bé ấy, quân Nguyễn lại quyết tử đến thế.

Từ đồn Thị Nghè, tiếng trống thúc quân vang lên dồn dập. Những nài voi, những toán lính giương giáo, những nghĩa binh tay chỉ có giáo mác thô sơ nhưng mắt sáng như lửa, đã xông ra tuyến đầu. Một bên là đại bác thép, một bên là con người bằng xương bằng thịt.

Ngay khi tàu Pháp nã pháo vào bờ, quân Nguyễn lập tức phản kích. Trên bờ, các đội pháo thủ dưới quyền Chưởng cơ Vũ Duy – người nổi tiếng giỏi pháo binh ở Nam Bộ – chỉnh pháo bắn thẳng vào đội hình đổ bộ.

Những khẩu pháo đồng, tuy công nghệ thua xa, nhưng khi nổ vẫn khiến cả mặt sông rung chuyển. Pháp buộc phải tản ra, tránh hỏa lực trực diện.

Chiếc cầu Thị Nghè – vốn bằng gỗ – bị đánh sập nhiều đoạn để ngăn quân Pháp vượt qua. Nhưng điều này cũng khiến chính nghĩa binh Việt phải chiến đấu trong tình trạng không có đường lui.

Nhiều chiến binh đã cắm cọc tre dưới nước, rải chướng ngại vật để chặn xuồng địch. Những người thợ cưa, thợ mộc trong vùng được huy động làm phao cháy: bó rơm tẩm dầu, dồn lại thành bè, châm lửa rồi đẩy trôi theo dòng rạch để đốt tàu nhỏ của đối phương.

Những mảng lửa đỏ rực trên mặt nước nhìn từ xa như những đốm sao rơi xuống sông.

Đến gần trưa, quân Pháp bắt đầu đổ bộ bằng xuồng nhỏ. Binh sĩ đội mũ képi xanh, súng trường Minié trong tay, tiến dọc bờ sông Thị Nghè. Họ muốn vòng qua các tuyến pháo bên bờ.

Nhưng ngay khi chạm bờ, họ bị chặn bởi đội cung nỏ, đội súng hỏa mai và nhất là những toán nghĩa binh mai phục dưới lùm cây, sau những đụn đất.

Không ít lính Pháp phải thốt lên:

“Chúng ta tưởng họ sẽ bỏ chạy, nhưng họ chiến đấu như những người không còn gì để mất.”

Quân Nguyễn dùng chiến thuật “phục kích chặn đầu – khóa hông”, phối hợp với thủy quân từ trong rạch đổ ra. Hai bên giằng co trên từng mỏm đất nhỏ, từng ụ tre, từng khúc sông.

Máu của cả hai bên hòa vào dòng nước, nhuộm đỏ rạch Thị Nghè.

Nhiều nghĩa binh chỉ mặc áo vải, tay cầm mác, đã xông lên chém giáp lá cà với đối phương có súng ống và lưỡi lê. Nhưng lạ thay, ở cự ly gần, họ lại chiếm ưu thế vì dũng cảm hơn và quen địa hình.

Một sĩ quan Pháp ghi trong nhật ký:

“Không có trận đánh nào ở Nam Kỳ khiến chúng tôi ám ảnh như Thị Nghè. Họ không lùi. Họ chỉ tiến lên.”

Nhiều trang tài liệu về trận Thị Nghè ghi rõ vai trò của dân địa phương: những người nông dân, ngư dân, người bán hàng rong… tất cả đều trở thành một phần chiến trận.

Có bà mẹ nấu cả nồi cơm lớn, mang ra tận tuyến lửa để tiếp sức cho nghĩa quân.

Có những đứa trẻ làm liên lạc, bám theo những lối nhỏ sau nhà dân, luồn qua những bụi tre để chuyển tin.

Có những người đàn ông chèo ghe ra giữa đạn bom, kéo về những nghĩa binh bị thương.

Chính sức mạnh ấy làm quân Pháp chậm lại. Họ không thể ngờ rằng một vùng ven đô yên bình lại biến thành pháo đài kháng cự dữ dội đến thế.

Dù chiến đấu phi thường, quân Nguyễn vẫn rơi vào thế bất lợi. Pháo binh Pháp liên tục nã vào các hỏa điểm, dần dần phá hủy từng đoạn phòng tuyến.

Đến giữa chiều, đại bác trên tàu chiến Pháp bắn trúng đồn chính tại Thị Nghè. Pháo thủ Vũ Duy bị thương nặng nhưng vẫn hô:

“Đừng rút! Giữ cầu! Giữ đất này!”

Các bức tường đất đổ xuống, nhiều lính cơ hy sinh ngay tại pháo đài.

Pháp sau đó đưa lực lượng mới từ tàu vào bờ, hình thành mũi tấn công mạnh, áp đảo hẳn về vũ khí và quân số.

Khoảng cuối giờ chiều, đội hình Nguyễn buộc phải rút về phía trong, cố thủ cận cửa thành Gia Định.

Cầu Thị Nghè – sau một ngày đỏ lửa – biến thành đống gỗ cháy còn bốc khói, vỡ từng mảng.

Pháp chiếm được Thị Nghè, nhưng cái giá họ phải trả rất lớn. Bản phúc trình của soái hạm “Phlégéton” trong cùng ngày ghi:

“Tổn thất tại Thị Nghè cao hơn dự kiến. Quân bản xứ chiến đấu dai dẳng và liều lĩnh bất thường.”

Đó không chỉ là báo cáo quân sự, mà là sự thừa nhận: người Việt Nam không bao giờ dễ khuất phục.

Thị Nghè thất thủ, nhưng chính sự kháng cự tại đây khiến quân Pháp không thể đánh chiếm toàn bộ Gia Định trong ngày đầu. Họ phải mất thêm thời gian, chịu thêm thương vong, và đối mặt với sự phản kháng mạnh mẽ từ lực lượng nghĩa binh trải rộng khắp vùng.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nếu không có trận đánh ác liệt tại Thị Nghè, quân Pháp đã tiến vào thành nhanh hơn nhiều, và cục diện miền Nam có thể thay đổi theo hướng bất lợi hơn nữa cho Việt Nam.

Ngày nay, người Sài Gòn đi qua cầu Thị Nghè, nhìn dòng xe qua lại, ít ai hình dung nơi đây từng là một chiến địa rực lửa. Dòng rạch êm đềm chảy dưới cầu đã từng đỏ máu. Những hàng cây bên đường từng che bóng cho những người chiến sĩ bất khuất.

Trận Thị Nghè không phải là trận lớn nhất, nhưng lại là một trận đặc biệt: nó thể hiện ý chí chống ngoại xâm của cư dân Nam Bộ ngay từ những ngày đầu bị tấn công. Nó cho thấy sức mạnh của một cộng đồng biết đoàn kết. Nó là lời khẳng định rằng dù kẻ thù có súng đạn hiện đại, nhưng người dân đất Việt không bao giờ run sợ.

Nhiều nhân vật vô danh – những nghĩa dân, những người lính cơ – đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng mà sử sách không kịp ghi tên. Nhưng họ chính là linh hồn của trận chiến.

Trận đánh Cầu Thị Nghè là một lát cắt dữ dội nhưng đẹp đẽ trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc. Đó là nơi:

  • Người dân và quân lính hòa thành một ý chí.

  • Một cây cầu nhỏ trở thành chiến tuyến bảo vệ cả vùng trời Gia Định.

  • Lòng yêu nước vượt qua cả giới hạn của vũ khí thô sơ.

  • Ngày nay, đứng trên cầu Thị Nghè nhìn dòng xe hối hả, ta chợt hiểu rằng những bước chân bình yên ấy có được là nhờ những con người đã ngã xuống cách đây hơn một thế kỷ rưỡi.

    Trận Thị Nghè không chỉ là một chi tiết lịch sử.
    Nó là ngọn lửa của tinh thần bất khuất, soi rọi đến tận hôm nay.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn