“Thi Tướng” Huỳnh Văn Nghệ
Huỳnh Văn Nghệ sinh năm 1914, tại làng Tân Tịch, tổng Chánh Mỹ Hạ, tỉnh Biên Hòa (nay là xã Thường Tân, TP Hồ Chí Minh). Là người thông minh, học giỏi, Huỳnh Văn Nghệ được nhận học bổng vào học Trường Trung học Petrus Ký (nay là Trường THPT Lê Hồng Phong, phường Chợ Quán, TP Hồ Chí Minh). Sớm giác ngộ, từ năm 1932, Huỳnh Văn Nghệ đã tham gia các hoạt động do Đảng lãnh đạo.
Ngày 23-9-1945, Nam Bộ đứng dậy kháng chiến, bắt đầu trang sử vàng oanh liệt “đi trước về sau”. Một người Nam Bộ vừa cầm súng, vừa cầm bút bước vào kháng chiến, để rồi trở thành một nhà chỉ huy quân sự tài ba, một nhà thơ nổi tiếng, được nhân dân yêu quý gọi là “Thi tướng”. Đó là Huỳnh Văn Nghệ, còn gọi là Tám Nghệ (1914-1977).
Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ tại Chiến khu Đ Nói về nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ, ai cũng nhớ các bài thơ: “Tiễn bạn về Bắc”, “Về Bắc”, “Nhớ Bắc” nổi tiếng của ông. Tứ thơ của bài “Tiễn bạn về Bắc” bắt nguồn từ buổi tiễn bạn tại sân ga Sài Gòn năm 1940. Đúng dịp thông tuyến đường sắt Bắc-Nam, Sở Hỏa xa Sài Gòn được chính quyền bảo hộ ưu tiên cho một số nhân viên đi tham quan Hà Nội bằng xe lửa. Huỳnh Văn Nghệ may mắn được chọn. Hai ngày trước khi lên đường, ông nhường lại suất của mình cho một người bạn. Buổi chiều ấy ra sân ga tiễn bạn, khi đoàn tàu dần khuất bóng, cảm hứng dâng trào, Huỳnh Văn Nghệ đã bật ra những câu thơ xuất thần: Ai đi về Bắc ta đi với/ Thăm lại non sông giống Lạc Hồng/ Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. Đây cũng là tứ thơ đầu cho các bài thơ sau, được ông viết trong thập niên 1940. Với các thi nhân, luôn cần có môi trường tạo cảm hứng. Sau này, không gian chiến trường Chiến khu Đ là cảm hứng để thi sĩ Huỳnh Văn Nghệ viết nên những áng thơ để đời. Ông xứng đáng được tôn vinh là người viết sử bằng thơ về Chiến khu Đ của “miền Đông gian lao mà anh dũng”, thể hiện chân thực, sinh động hiện thực cuộc sống chiến đấu anh hùng. Những năm đầu kháng chiến, thơ ông vui tươi, đầy tinh thần lãng mạn: Phấp phới cờ bay với gió xuân/ Quân ca từng khúc, nhịp xa gần/ Từng đoàn chiến sĩ đi ra trận/ Có bướm, chim đưa tận cuối rừng (Xuân chiến khu). Bài này làm trong dịp Tết kháng chiến đầu tiên ở Chiến khu Đ, năm 1946. Kháng chiến ngày càng ác liệt, tuy nói về bi kịch mất mát nhưng vẫn là tiếng thơ lạc quan, như nhìn thấy chiến thắng sắp đến gần: Biên Hòa đã mất/ Chiến khu Đ cờ vẫn đỏ ngọn cao/ Du kích Tân Uyên ngày đào đắp chiến hào/ Đêm tập một, hai vang trường Đất Cuốc/ Già, trẻ, gái, trai rộn ràng tập hát/ Tiến quân ca (Ngày hội). Đất đai bị giặc chiếm, tất nhiên là khó khăn, hy sinh, gian khổ: Mất bờ sông là mất một nửa chiến khu/ Mất nước ngọt, bờ tre gió mát/ Thuyền tiếp tế, lúa khoai chìm đáy nước/ Đường giao thông liên lạc đứt đôi bờ. Nhưng chúng ta sẽ giành lại nhờ ý chí quyết tâm của lòng yêu nước: Nhưng quân thù vẫn sợ lòng chiến khu/ Cờ đỏ vẫn phất cao cành cổ thụ (Bờ sông bị chiếm). Thơ ông nhiều đối thoại, là những tiếng nói tự nhiên giữa đời thường nhưng mang ý nghĩa khái quát cao về một giai đoạn lịch sử: Thấy mẹ buồn, con hỏi/ “Má tiếc gì má ơi!/ Nhà mình con đốt rồi/ Kẻo mai thành bót giặc” (Mẹ buồn). Chỉ mấy câu thơ nhưng cho người đọc hình dung ra cả một thời tiêu thổ kháng chiến, người dân sẵn lòng đốt ngôi nhà-nơi ở, điểm tựa của mình để chống giặc.
Cuốn sách “Huỳnh Văn Nghệ, tác giả và tác phẩm”, Nhà xuất bản Đồng Nai, năm 2008. “Tiếng hát giữa rừng” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách Huỳnh Văn Nghệ làm tại Chiến khu Đ, năm 1946. Chỉ là lời thuật nhưng cho thấy cả một thời đại anh hùng, ai ai cũng xả thân vì Tổ quốc: Bác sĩ vừa cưa vừa khóc/ Chị cứu thương mắt cũng đỏ hoe/ Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre/ Anh chiến sĩ cứ mê mải hát/ Cưa cứ cưa, xương cứ đứt/ Máu cứ rơi từng vết đỏ bông/ Hai bàn tay siết chặt đôi hông/ Dồn hết phổi vào trong tiếng hát:/ “Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc...”/... Ảnh Bác Hồ như rưng rưng nước mắt. Hoàn cảnh ra đời của bài thơ xuất phát từ một câu chuyện có thật: Anh bộ đội Bùi Xuân Tảo bị thương trong trận tấn công thị xã Biên Hòa vào đầu tháng 1-1946, được đưa về quân y viện ở Ðất Cuốc-Chiến khu Ð. Kháng chiến thiếu thốn trăm bề, vì thuốc mê ít, bác sĩ bảo người thương binh hãy hát một bài gì đó để át đi sự đau đớn khi giải phẫu và anh đã hát bài “Tiến quân ca”. Ca mổ diễn ra đúng lúc Tám Nghệ cưỡi ngựa đi ngang và trực tiếp chứng kiến... Những câu thơ ấy, những sự kiện ấy, những con người ấy như những ngọn lửa lý tưởng làm bừng sáng chân lý: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Và mãi là ngọn lửa đạo lý soi cho mai sau nhớ về cha ông đã chịu đựng hy sinh, cực khổ để có đất nước hôm nay vươn mình vào bầu trời hòa bình, hạnh phúc.Với những đóng góp lớn lao, tên tuổi Huỳnh Văn Nghệ được ghi vào “Từ điển danh nhân Việt Nam”, “Từ điển thành phố Sài Gòn-Hồ Chí Minh”, được đặt tên cho một số trường học, đường phố ở TP Hồ Chí Minh ngày nay.


