Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ - Người giữ hồn Chiến Khu Đ

Lịch sử dân tộc Việt Nam có những con người vừa cầm súng đánh giặc, vừa cầm bút viết nên những vần thơ bất hủ. Họ không chỉ là những người chỉ huy tài ba trên chiến trường mà còn là những nghệ sĩ mang trong tim tình yêu tha thiết với quê hương, đất nước. Với vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai, cái tên Huỳnh Văn Nghệ luôn được nhắc đến bằng sự kính trọng và tự hào. Người đời gọi ông bằng một cái tên rất đẹp: "Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ".
Mỗi lần đọc câu thơ:
"Từ độ mang gươm đi mở cõi,
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long..."
tôi lại hình dung đến hình ảnh một vị tướng giữa đại ngàn Chiến khu Đ. Giữa khói lửa chiến tranh, ông vừa chỉ huy chiến đấu, vừa viết thơ để động viên đồng bào, chiến sĩ. Với ông, thơ và súng đều hướng về một mục đích duy nhất: giành lại độc lập cho dân tộc.
Huỳnh Văn Nghệ sinh năm 1914 tại làng Tân Tịch, tỉnh Biên Hòa xưa (nay thuộc xã Thường Tân, tỉnh Bình Dương). Từ khi còn trẻ, ông đã sớm giác ngộ cách mạng, tham gia hoạt động yêu nước và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông trở về Biên Hòa lãnh đạo phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp.
Những ngày đầu kháng chiến vô cùng gian khổ. Địch liên tục càn quét, lực lượng cách mạng còn non trẻ, vũ khí thiếu thốn. Trong hoàn cảnh ấy, Huỳnh Văn Nghệ cùng đồng đội quyết định xây dựng Chiến khu Đ giữa rừng già miền Đông. Từ những cánh rừng tưởng như hoang vu ấy, một căn cứ địa cách mạng vững chắc đã được hình thành. Chiến khu Đ trở thành nơi nuôi dưỡng lực lượng, bảo vệ cán bộ và là bàn đạp cho nhiều chiến công vang dội sau này.
Có một câu chuyện được nhiều cựu chiến binh kể lại về vị chỉ huy này. Trong những ngày đơn vị thiếu gạo, thiếu muối, chiến sĩ phải ăn rau rừng, củ mài để cầm cự, Huỳnh Văn Nghệ luôn là người ăn sau cùng. Ông đi từng lán hỏi thăm thương binh, động viên chiến sĩ và cùng mọi người vượt qua khó khăn. Ông từng nói rằng người chỉ huy không chỉ biết đánh giặc mà còn phải biết giữ vững niềm tin cho đồng đội. Chính sự gần gũi ấy đã khiến mọi người coi ông như một người anh, người đồng chí thân thiết hơn là một vị chỉ huy.
Nhưng điều làm nên sự khác biệt của Huỳnh Văn Nghệ chính là tâm hồn thi sĩ. Sau mỗi trận đánh, khi màn đêm buông xuống trên cánh rừng Chiến khu Đ, ông lại ghi vội những cảm xúc của mình thành thơ. Những câu thơ của ông không chỉ nói về khói lửa chiến tranh mà còn chan chứa tình yêu quê hương, tình đồng đội và niềm tin vào ngày đất nước thống nhất. Thơ của ông được truyền tay từ đơn vị này sang đơn vị khác, trở thành nguồn động viên tinh thần to lớn đối với cán bộ, chiến sĩ miền Đông Nam Bộ.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Huỳnh Văn Nghệ giữ nhiều trọng trách quan trọng như Chỉ huy trưởng Vệ quốc đoàn Biên Hòa, Chi đội trưởng Chi đội 10, Tư lệnh Khu VII và là một trong những người có công lớn xây dựng, bảo vệ Chiến khu Đ – "thủ đô kháng chiến" của miền Đông Nam Bộ. Tài thao lược của ông cùng lòng dũng cảm của quân và dân đã góp phần làm thất bại nhiều cuộc càn quét của thực dân Pháp vào căn cứ cách mạng.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục công tác trong quân đội và các cơ quan của Nhà nước. Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, ông lại trở về chiến trường miền Nam, tiếp tục cống hiến cho đến ngày đất nước thống nhất. Cuộc đời ông là hành trình không ngừng nghỉ vì Tổ quốc.
Năm 1977, Huỳnh Văn Nghệ qua đời, để lại niềm tiếc thương sâu sắc. Năm 2005, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật; năm 2010, được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đối với tôi, điều đáng quý nhất ở Huỳnh Văn Nghệ không chỉ là tài cầm quân hay những bài thơ nổi tiếng, mà chính là nhân cách của một người chiến sĩ suốt đời đặt Tổ quốc lên trên lợi ích cá nhân. Ông đã chứng minh rằng lòng yêu nước có thể được thể hiện bằng nhiều cách: bằng thanh gươm nơi chiến trận và bằng những câu thơ thắp sáng niềm tin.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng Chiến khu Đ vẫn còn đó, những vần thơ của Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ vẫn còn đó. Mỗi lần đọc lại hay đứng trước tượng đài của ông ở Đồng Nai, tôi càng hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng trí tuệ, lòng quả cảm và cả tâm hồn đẹp của những con người như Huỳnh Văn Nghệ.
Câu chuyện về Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ là ngọn lửa truyền thống được trao lại cho thế hệ trẻ. Ngọn lửa ấy nhắc nhở chúng ta phải biết yêu quê hương, trân trọng hòa bình, không ngừng học tập và cống hiến để xứng đáng với những người đã viết nên trang sử vàng của dân tộc bằng cả cuộc đời mình.


