Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

THIÊN HỘ DƯƠNG - NGƯỜI ANH HÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI, DỰNG CĂN CỨ CHỐNG PHÁP GIỮA VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC

Giữa vùng Đồng Tháp Mười mênh mông sông nước, nơi lau sậy, kênh rạch và những cánh đồng ngập nước tạo thành một địa hình hiểm trở, một người thủ lĩnh đã dựng căn cứ, tập hợp nghĩa

Vĩnh Long06/10/2026Đoàn phường Phú Nhuận (Phường Phú Nhuận)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
THIÊN HỘ DƯƠNG - NGƯỜI ANH HÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI, DỰNG CĂN CỨ CHỐNG PHÁP GIỮA VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC

THIÊN HỘ DƯƠNG - NGƯỜI ANH HÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI, DỰNG CĂN CỨ CHỐNG PHÁP GIỮA VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC

Năm sinh - mất: 1827 - 1866

Quê quán: Một số tư liệu ghi quê ở miền Trung; sau vào Nam khai hoang và lập nghiệp

Danh hiệu: Anh hùng dân tộc

Giữa vùng Đồng Tháp Mười mênh mông sông nước, nơi lau sậy, kênh rạch và những cánh đồng ngập nước tạo thành một địa hình hiểm trở, một người thủ lĩnh đã dựng căn cứ, tập hợp nghĩa quân và kiên trì chiến đấu chống thực dân Pháp trong những năm đầu Nam Kỳ bị xâm lược. Đó là Thiên Hộ Dương, nhân vật thường được các tư liệu gọi là Võ Duy Dương hoặc Nguyễn Duy Dương. Từ một người vào Nam khai hoang, ông trở thành người chỉ huy hàng nghìn nghĩa quân, xây dựng Gò Tháp thành đại bản doanh của phong trào kháng Pháp ở Đồng Tháp Mười. Trong những năm 1864-1866, nghĩa quân dưới quyền ông liên tục tổ chức các trận đánh khiến quân Pháp gặp nhiều tổn thất. Dù cuối cùng phải rút khỏi Đồng Tháp Mười và qua đời trên đường trở về Kinh, Thiên Hộ Dương đã để lại một biểu tượng đặc biệt về tinh thần chống ngoại xâm của người dân Nam Bộ.

V

õ Duy Dương, thường được nhân dân Nam Bộ gọi là Thiên Hộ Dương, sinh năm 1827. Tư liệu hiện nay của tỉnh Đồng Tháp xác định ông là một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX. Trước khi trở thành người cầm quân, cuộc đời ông gắn với quá trình khai phá vùng đất phương Nam. Năm 1857, ông cùng một số người bạn hưởng ứng chính sách khai hoang của triều Nguyễn, vượt biển vào Nam, tìm đến vùng Ba Giồng và khu vực Lâm Tẩu, tức vùng Đồng Tháp Mười ngày nay, để khai hoang, lập ấp. Chính quá trình sinh sống giữa vùng đất mới đã giúp ông hiểu rõ địa hình, dân cư và những tuyến đường sông rạch của miền Tây Nam Bộ - những yếu tố về sau trở thành lợi thế quan trọng trong cuộc chiến chống quân Pháp.

Năm 1859, khi quân Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định, Võ Duy Dương không đứng ngoài cuộc. Ông cùng Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, lúc ấy đang giữ chức Giáo thụ phủ Kiến An, chiêu mộ nông dân, tổ chức lực lượng và kéo về Gia Định tham gia chống Pháp. Đây là giai đoạn đầu tiên ông trực tiếp bước vào con đường chiến đấu. Từ một người khai hoang, ông dần trở thành một thủ lĩnh có khả năng tập hợp nhân dân và tổ chức lực lượng vũ trang.

Năm 1861, tình hình Nam Kỳ ngày càng nguy cấp. Quân Pháp sau khi chiếm được Gia Định tiếp tục mở rộng đánh chiếm các vùng xung quanh. Võ Duy Dương theo phái bộ của Khâm phái quân vụ Đỗ Thúc Tịnh trở lại Nam Kỳ với nhiệm vụ chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông tập hợp được gần 1.000 người và được triều đình phong chức Quản cơ. Việc được giao chức vụ này cho thấy triều đình nhà Nguyễn đã ghi nhận khả năng tổ chức lực lượng của ông trong cuộc chiến đang ngày càng quyết liệt.

Sau khi quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, nguy cơ họ tiếp tục tiến xuống ba tỉnh miền Tây trở nên rõ ràng. Trong hoàn cảnh triều đình Huế ngày càng lúng túng trước sức ép quân sự và ngoại giao, Võ Duy Dương cùng Đỗ Thúc Tịnh quyết định xây dựng căn cứ ở vùng Đồng Tháp Mười. Tháng 11 năm 1862, hai người xây dựng đồn Mỹ Quý thuộc tổng Lợi Trường, huyện Kiến Đăng, phủ Kiến An, Định Tường. Đây là một quyết định có ý nghĩa quan trọng, bởi Đồng Tháp Mười với hệ thống sông rạch chằng chịt, địa hình lầy lội và rộng lớn rất khó để quân Pháp sử dụng những phương thức hành quân quen thuộc.

Đồng Tháp Mười từ đó trở thành một trong những căn cứ kháng chiến quan trọng nhất ở Nam Bộ. Nghĩa quân dựa vào địa hình tự nhiên để tổ chức phòng thủ, xây dựng các đồn tiền tiêu và kiểm soát những tuyến đường thủy dẫn vào căn cứ. Gò Tháp dần trở thành trung tâm của hệ thống căn cứ. Địa hình nơi đây không chỉ giúp nghĩa quân che giấu lực lượng mà còn tạo điều kiện để tổ chức những cuộc tập kích bất ngờ rồi nhanh chóng rút về vùng căn cứ. Đối với quân Pháp, việc tiến sâu vào một vùng đất như Đồng Tháp Mười đồng nghĩa với việc phải đối mặt với địa hình xa lạ, thời tiết khắc nghiệt và sự chống trả liên tục của nghĩa quân.

Sau những biến động trong lực lượng chỉ huy, Võ Duy Dương tiếp tục duy trì cuộc kháng chiến. Đỗ Thúc Tịnh hy sinh, Nguyễn Hữu Huân bị bắt, nhưng Thiên Hộ Dương vẫn không từ bỏ cuộc chiến. Ông rút về Bình Cách rồi tiếp tục củng cố lực lượng. Trong thời gian này, nghĩa quân từng bước xây dựng Gò Tháp thành một đại bản doanh tương đối vững chắc. Theo tư liệu của ngành văn hóa Đồng Tháp, đến giai đoạn 1864-1866, Gò Tháp đã trở thành trung tâm của phong trào kháng chiến ở Đồng Tháp Mười.

Từ căn cứ Gò Tháp, nghĩa quân Thiên Hộ Dương bắt đầu chuyển sang chủ động tiến công. Giữa năm 1865, khi lực lượng đã đủ mạnh, nghĩa quân tổ chức nhiều trận đánh vào các vị trí của quân Pháp. Một trong những trận nổi bật là trận Mỹ Trà diễn ra vào đêm 21 rạng ngày 22 tháng 7 năm 1865. Nghĩa quân tiến công đồn Mỹ Trà, đánh phá vị trí của quân Pháp rồi rút về đại bản doanh Gò Tháp. Những trận đánh như vậy cho thấy nghĩa quân không chỉ cố thủ trong căn cứ mà còn chủ động đánh vào các vị trí của đối phương để gây sức ép và làm suy yếu hệ thống kiểm soát của quân Pháp.

Hoạt động của nghĩa quân ngày càng khiến chính quyền Pháp lo ngại. Tháng 4 năm 1866, Thống đốc Nam Kỳ De Lagrandière huy động lực lượng lớn, tổ chức cuộc tiến công vào Đồng Tháp Mười. Quân Pháp chia thành ba mũi, từng bước tiến vào khu vực căn cứ. Đây là một trong những chiến dịch quy mô lớn nhất của quân Pháp nhằm tiêu diệt lực lượng Thiên Hộ Dương và phá căn cứ kháng chiến ở Gò Tháp.

Nghĩa quân chống trả quyết liệt. Trong gần mười ngày giao chiến, nhiều tiền đồn bị quân Pháp đánh chiếm nhưng nghĩa quân vẫn tổ chức phòng thủ và gây cho đối phương những tổn thất đáng kể. Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều, một tướng lĩnh quan trọng dưới quyền Thiên Hộ Dương, trực tiếp chỉ huy lực lượng tại một trong những vị trí phòng thủ và chống trả quyết liệt trước các đợt tiến công. Tuy nhiên, trước sức mạnh quân sự vượt trội của quân Pháp, Thiên Hộ Dương cuối cùng phải ra lệnh rút khỏi đại bản doanh Tháp Mười để bảo toàn lực lượng. Đây là một quyết định khó khăn nhưng phù hợp với mục tiêu duy trì cuộc kháng chiến thay vì để toàn bộ lực lượng bị tiêu diệt trong một trận quyết chiến không cân sức.

Sau khi rút khỏi Đồng Tháp Mười, Thiên Hộ Dương không giải tán nghĩa quân. Ông rút về Cao Lãnh rồi tiến lên vùng biên giới Tây Nam. Tại đây, ông liên kết với nghĩa quân của Trương Quyền và lực lượng của thủ lĩnh Campuchia A-cha-xoa để tiếp tục chống Pháp. Sự liên kết này cho thấy hoạt động của Thiên Hộ Dương không chỉ giới hạn trong Đồng Tháp Mười mà còn mở rộng sang khu vực biên giới Tây Nam, nơi các lực lượng chống Pháp có thể phối hợp với nhau để gây sức ép lên hệ thống đồn bốt của đối phương. Nghĩa quân tổ chức nhiều cuộc tiến công vào các đồn Pháp ở khu vực Tây Ninh, gây cho quân Pháp những tổn thất đáng kể.

Nhưng sau nhiều năm chiến đấu, lực lượng của nghĩa quân ngày càng gặp khó khăn. Căn cứ Đồng Tháp Mười đã mất, lực lượng phân tán, trong khi quân Pháp ngày càng tăng cường kiểm soát Nam Kỳ. Cuối năm 1866, Thiên Hộ Dương quyết định vượt biển trở về Kinh để tiếp tục tìm phương hướng hoạt động. Trên đường đi, ông gặp nạn tại khu vực biển Cần Giờ và qua đời. Các nguồn chính thức của Đồng Tháp hiện ghi ông mất vào tháng 11 năm 1866 trên vùng biển Cần Giờ.

Thiên Hộ Dương không có cơ hội chứng kiến một Nam Kỳ độc lập trở lại. Cuộc chiến mà ông tham gia cuối cùng không thể ngăn được quá trình thực dân Pháp mở rộng quyền kiểm soát tại Nam Bộ. Tuy nhiên, thất bại về quân sự không đồng nghĩa với việc cuộc kháng chiến của ông trở nên vô nghĩa. Trong những năm 1864-1866, Đồng Tháp Mười dưới sự lãnh đạo của Thiên Hộ Dương đã trở thành một trung tâm kháng chiến lớn, tiếp nối tinh thần chống Pháp của Trương Định và nhiều thủ lĩnh nghĩa quân Nam Bộ khác. Tên tuổi ông vì thế được lưu lại trong ký ức của người dân vùng đất này như một biểu tượng của tinh thần không khuất phục.

Sau khi ông mất, nhân dân Đồng Tháp Mười lập đền thờ Thiên Hộ Dương tại Gò Tháp. Hằng năm, vào các ngày 14, 15 và 16 tháng 11 âm lịch, người dân tổ chức lễ tưởng niệm ông cùng Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều. Tín ngưỡng thờ hai vị anh hùng dần trở thành một nét văn hóa của cư dân Đồng Tháp Mười. Đặc biệt, ngày 2 tháng 1 năm 2026, tại Di tích quốc gia đặc biệt Gò Tháp, tỉnh Đồng Tháp tổ chức lễ đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho lễ tưởng niệm Thiên Hộ Dương và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều. Điều đó cho thấy ký ức về cuộc kháng chiến của hai vị thủ lĩnh vẫn tiếp tục được gìn giữ trong đời sống văn hóa hiện nay.

Thiên Hộ Dương là hình ảnh tiêu biểu của những thủ lĩnh nghĩa quân Nam Bộ trong buổi đầu chống thực dân Pháp. Ông không xuất thân từ một vị trí quan trường cao sang mà bước vào cuộc chiến từ quá trình khai hoang, gắn bó với vùng đất và nhân dân Nam Bộ. Từ Gia Định đến Đồng Tháp Mười, từ những ngày đầu chiêu mộ nghĩa quân đến khi dựng đại bản doanh Gò Tháp, ông luôn tìm cách duy trì lực lượng và tiếp tục chiến đấu trong hoàn cảnh chênh lệch lớn về quân sự. Điều đáng nhớ nhất ở Thiên Hộ Dương không chỉ là những trận đánh mà còn là khả năng biến một vùng đất hiểm trở thành căn cứ kháng chiến và tập hợp nhân dân thành một lực lượng có tổ chức. Với thế hệ hôm nay, câu chuyện của ông nhắc nhở về lòng yêu nước, ý chí kiên trì và tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh đất nước. Một con người có thể không thay đổi được toàn bộ cục diện của thời đại, nhưng sự dấn thân và kiên định của họ vẫn có thể trở thành một phần không thể thiếu trong ký ức của dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
THIÊN HỘ DƯƠNG - NGƯỜI ANH HÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI, DỰNG CĂN CỨ CHỐNG PHÁP GIỮA VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC | Câu chuyện thời hoa lửa