Thiên Hộ Dương – Võ Duy Dương, thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp
Thiên Hộ Dương tên thật Võ Duy Dương là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân ở thôn Cù Lâm Nam, thuộc phú Tuy Viên, trấn Bình Định (nay là thôn Nam Tượng, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, Bình Định), sanh năm 1827, em ruột của anh hùng chống Pháp Võ Duy Tân, người đã cùng Mai Xuân Thưởng, Võ Trứ kháng chiến chống thực dân Pháp ở Bình Định, bị giặc bắt chém tại Gò Chàm (Bình Định) năm 1898. Tương truyền ông rất khỏe mạnh và giỏi võ nghệ, được bà con tôn là Ngũ linh Dương.
Gặp lúc gia đình, làng xóm lâm vào cảnh đói nghèo vì nạn bóc lột, bao chiềm ruộng đất của bọn quan lại cường hào ở địa phương; năm 1857, ông cùng một số bạn bè hưởng ứng chánh sách khai hoang của Nguyễn Tri Phương, vượt biển vào Nam tìm đền đất Ba Giông, ven Đồng Tháp Mười (nay thuộc địa bàn huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè tỉnh Tiên Giang), quan hệ với nông dân, điền chủ, danh nho địa phương để tìm chỗ dựa cho cuộc chiêu dân, khai hoang lập ấp.
Tháng 2 năm 1859, khi thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định, ông liên cùng thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, đang là giáo thọ phủ Kiển An tỉnh Định Tường, chiêu mộ nông dân lập đội nghĩa ứng kéo về Gia Định đánh Pháp, ông được phong chức Chánh quản đạo. Thành Gia Định vỡ, quân triều đình rút về Biên Hòa. Ông vượt biển về kinh, bái yết vua Tự Đức hiến kế đuổi giặc. Lúc bấy giờ, triêu đình chưa có đối sách dứt khoát đối với thực dân Pháp, nên tạm thời điều ông vê Quảng Nam dẹp cuộc nối loạn của người Thạch Bích (mọi Vách Đá) mà quan quân địa phương không tiểu trừ đươc. Ông hoàn thành nhiệm vụ và được phong hàm Chánh bát phẩm Thiên hộ vào năm 1860.
Tháng 5-1861, ông được sung vào phái bộ của Khâm phái quân vụ Đồ Thúc Tịnh vào Nam với nhiệm vụ chiêu mộ nghĩa dõng chống giặc. Được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ, nên trong một thời gian ngẵn, ông mộ được gần 1000 nghĩa dõng và được phong chức quản cơ. Ông đóng quân ở Bình Cách, liên kết với Trương Định ở Gò Công, Trần Xuân Hòa (Phủ Cậu) ở
Thuộc Nhiêu và hợp cùng Đỗ Thúc Tịnh xây dựng một đồn chiến lược tại Mỹ Quý (Tân thành Mỹ Quý) có tác dụng chia cắt lực lượng địch trong tỉnh Định Tường. Đầu năm 1862, giặc Pháp đột kích căn cứ Thuộc Nhiêu, Trần Xuân Hòa bị bắt và tự tử chết, ông điều Thủ khoa Huân đến xây dựng lại và bảo vệ Thuộc Nhiêu. Ông phối hợp với nghia quân Trương Định tấn công địch liên tục, khiến chúng phải rút bỏ nhiều đồn để tập trung quân đánh chiếm thành Vĩnh Long hầu gây áp lực với triều đình. Sau đó chúng mang đại quân tấn công Tân thành Mỹ Quí, nghĩa quân chống cự quyết liệt suốt 57 ngày đêm, Đỗ Thúc Tịnh hy sinh, Nguyễn Hữu Huân bị bắt ở Thuộc Nhiêu, Thiên hộ Dương thoát được rút về Bình Cách.
Lúc ây triêu đình áp dụng chính sách hai mặt, vừa ký hòa ước Sài Gòn (1862) nhường ba tính Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp vừa buộc nghĩa quân phải giải giáp và rút ra khỏi ba tỉnh miền Đông; mặt khác, bí mật phong Trương Định làm Bình Tây tướng quân, câm đầu lực lượng nghĩa ứng ớ Nam Kỳ, Võ Duy Dương làm Chánh đề đốc và Nguyên Hữu Huân (sau khi bị bắt đã tìm cách trốn thoát) làm Phó Đề đốc.
Từ đây đến cuối năm, lực lượng nghĩa quân phát triển mạnh, liên tục tấn công địch trên một tuyến dài từ Gò Công đến Cái Bè trong đó trận Thuộc Nhiêu làm chúng kinh hoàng. Bọn Pháp đối phó chật vật, phải viện binh thêm. Đầu năm 1863, nhờ có thêm viện binh, chúng tập trung quân đánh bật Trương Định ra khói căn cứ Tân Hoà (Gò Công) và liên tục tần công nghĩa quân Thiên hộ Dương. Đền cuối tháng 4, Thiên hộ Dương rút về cổ thủ ở Xoài Tư (vùng giáp ranh Cai Bè-Cai Lậy (Tiền Giang) hiện nay). Để bảo tồn lực lượng cho cuộc chiến đấu lâu dài, Thiên hộ Dương cử Thủ Khoa Huân sang ba tỉnh miền
Tây vận động tiền bạc mua vũ khí, còn ông phân tán nghĩa quân về các thôn ấp tránh sự lùng s?c của giặc, chỉ 100 nghĩa quân theo ông lưu động khắp nơi vận động nhân dân tham gia kháng chiền. Tại An Giang, ông liên kết với Thạch Bướm, một lãnh tụ nghĩa quân người Khmer.
Bọn Pháp truy lùng ông không kết quả. Tháng 7-1864, chúng phát hiện Thủ khoa Huân đang ở Châu Đốc và buộc tỉnh thần
An Giang bắt nộp chúng. Thủ khoa Huân bị bắt một lần nữa, ông như mất một cánh tay. Không đây một tháng sau (ngày 8-
1864), Trương Định hy sinh, nghĩa quân đứng trước nguy cơ tan vỡ. Với quyết tâm kiên trì chống giặc cứu nước, Thiên hộ
Dương không hề nao núng, ông trở lại Xoài Tư, rôi từ đó rút vào Đông Tháp Mười chuẩn bị cho giai đoạn chiền đấu mới.
Sau hơn một năm xây dựng căn cứ Tháp Mười với chiến thuật "tức kỳ yểm cổ" (im cờ giấu trống) trên cơ sở lực lượng có sắn và lực lượng tại chỗ của Đốc binhKiêu(Nguyễn Tấn Kiêu), Thống Linh(Nguyễn Văn Linh); nghĩa quân Đông Tháp Mười còn tập trung được đông đảo nông dân khắp nơi. Đến giữa năm 1865, thế và lực của nghĩa quân tương đối khá vững, nghĩa quân Đồng Tháp Mười bắt đầu tấn công Caí Bè, Cái Thia, Cai Lậy, Mỹ Quí...Đặc biệt là trận vào đêm 21 rạng ngày 22-7-1865,
Thiên hộ Dương cho nghĩa quân triệt hạ đôn Mỹ Trà gây thiệt hại nặng cho chúng, suýt bắt được huyện Lộc, đốt nhà việc Mỹ Trà...khiền Phó đô đốc Roze phải đưa viện binh từ Sài Gòn xuống cứu viện. Chúng đốt phá triệt hạ làng Mỹ Trà và Mỹ Ngãi để trá thù.
Tháng 4-1866, De Lagrandière cho tập trung quân của bồn dinh tham biện Tân An, Mỹ Tho, Cai Lậy và Cân Lố chia làm ba mũi tần công vào Đông Tháp Mười. Sau gẫn mười ngày quân tháo với giặc, nghĩa quân mất một số tiên đôn, đối lại chúng bị tiêu hao một số lớn binh lính. Để bảo tôn lực lượng, Thiên hộ Dương ra lịnh bỏ đại đôn Tháp Mười, rút lui theo hai hướng :
hướng Tây về biên giới, hướng Đông vê Cái Thia (Cá Bè). Chúng chiêm đôn nhưng rút ngay vì sợ bị đánh úp.
Thiên hộ Dương rút về Cao Lãnh rồi lên biên giới liên kết với nghĩa quân Trương Tuệ, và nghĩa quân Campuchia A-cha Xoa, tấn công đồn Tây Ninh gây cho giặc một số thiệt hại đáng kể. Pháp phản đối gay gắt, buộc triêu đình ra chỉ dụ truy nã công khai cá hai. Tình trạng nghĩa quân ngày một khó khăn; vũ khí, lương thực thiêu thôn, lại phái thường xuyên lưu động đối phó với sự truy lùng của giặc và của cả triều đình.
Tháng 10, Thiên hộ Dương cho người mang mật báo cho vua Tự Đức. Tháng 11, ông vượt biển về Kinh, đến cửa Thần Mẫu (Cần Giờ), bất ngờ ông bị Lý Sen, một tên cướp biển giết chết! Vua sai người tìm xác chôn cất và chu cấp cho gia đình.
Thiên Hộ Dương nằm xuống, nhưng tên tuổi và sự nghiệp chống giặc giữ nước của ông mãi mãi gắn chặt với mảnh đất
Đồng Tháp Mười anh hùng. Để tưởng nhớ người anh hùng có công giữ nước, ngày nay nhân dân đã xây dựng đền thờ tưởng niệm, hàng năm có đến hàng chục nghìn người đến kính bái.



