Cựu Thanh niên xung phong

Thiếu nữ 'thép' của tuyến lửa

Quảng Trị03/08/2026Đoàn xã Tân Minh (Tân Minh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của những người từng đi qua tuyến lửa 12A, câu chuyện nữ TNXP Trần Thị Thành đứng trên quả bom nổ chậm và cất tiếng hát động viên đồng đội luôn là biểu tượng của lòng quả cảm. Nay tuy đã 80 tuổi, sống yên bình tại P.Đồng Sơn, bà Thành vẫn kể rành rọt từng khoảnh khắc sinh tử trên con đường lửa năm xưa, nơi mà tuổi trẻ của bà và hàng trăm đồng đội đã gửi lại không ít máu xương.

Đại đội C759 được giao quản lý 10 km đường từ Khe Cấy đến Bãi Dinh, đơn vị mà bà Thành (quê H.Tuyên Hóa, Quảng Bình cũ) lần lượt giữ cương vị Đại đội phó rồi Chính trị viên đại đội. Đây là tọa độ lửa hứng chịu hàng trăm tấn bom đạn trút xuống nhằm cắt đứt mạch giao thông chiến lược men theo dãy Trường Sơn đưa hàng vào miền Nam. C759 phải vừa lấp hố bom, vừa mở đường mới, bảo đảm cho từng đoàn xe gạo, súng đạn, quân đội vượt qua. Họ làm việc trong điều kiện chỉ có khẩu hiệu duy nhất vang mãi: "Máu C759 có thể đổ, nhưng đường C759 không thể tắc".

Bà Thành nhớ rõ một đêm năm 1966, đối phương dồn lực đánh đoạn Khe Ve, thả xuống 50 quả bom nổ chậm. Đường suối, sườn đồi bị cày nát, tuyến giao thông có nguy cơ tê liệt. Trong lúc đi kiểm tra, bà và Đại đội trưởng công binh bất ngờ bị một quả bom phát nổ hất tung xuống đường, nằm sát ngay một quả bom chưa kích hoạt. Giữa tiếng động cơ xe, tiếng bom dội từ núi, bà Thành vẫn bình tĩnh tìm cách xử lý. Khi phát hiện quả bom nổ chậm án ngữ tuyến huyết mạch, bà chỉ nói ngắn gọn: "Để tôi đứng trên đó, nếu lò xo bom chuyển động, tôi sẽ hô".

Thế rồi giữa khói bụi, bà leo lên quả bom, đứng thẳng người, miệng hát to để trấn an đồng đội đang quần quật san lấp. Tiếng hát nghẹn rung giữa rừng núi như xua đi nỗi sợ của mọi người. Khi đường tạm thông, đoàn xe vượt qua an toàn, quả bom mới nổ, phá tung ngọn đồi phía sau. Đêm ấy, mọi người đều bảo: "Chỉ có Thành "thép" mới làm được chuyện đó".

Bà Thành gửi gắm nhiều điều cho thế hệ trẻ, mong muốn người trẻ xây dựng kinh tế, đưa đất nước phát triển hùng cường.

Sự khốc liệt của tuyến lửa 12A không chỉ có bom nổ chậm. Đồi 37 là nơi hằn sâu nỗi đau của biết bao cuộc chia ly. Bà kể như nghẹn lại: Mỗi khi thấy "dấu" của đồng đội thông qua mùi hôi hay xuất hiện đàn ruồi nhặng bâu, đó là lúc họ biết một người nữa đã nằm lại.

Hàng chục năm trôi qua, ký ức ấy vẫn là nỗi ám ảnh không lời: những thi thể chưa kịp đưa lên thì bom Mỹ lại trút xuống, vùi lấp tất cả; những người còn sống buộc phải ra lệnh cho đoàn xe đi qua trên chính nơi đồng đội mình nằm lại. "Nghĩ đến mà đau lắm…, nhưng khi đó chiến trường quyết liệt, nhiệm vụ buộc phải thế", bà nghẹn giọng.

Bà Thành từng nói: "Bom nổ thì tôi bay, nhưng nếu tôi sợ thì chiến sĩ cấp dưới biết dựa vào ai?". Hơn nửa đời người, bà chưa bao giờ xem mình là người hùng, nhưng đồng đội thì luôn gọi bà là "thiếu nữ thép của tuyến lửa".

"Tôi tự hào vì được Đảng thương"

Những phẩm chất kiên trung ấy được hun đúc từ tuổi thơ quá nhiều mất mát. 9 tuổi mồ côi cha, 10 tuổi mồ côi mẹ khi em gái út mới 1 tuổi. Ba chị em côi cút nương tựa nhau, mót lúa nuôi nhau qua ngày trong cảnh chiến tranh trăm bề thiếu thốn. "Mười mấy tuổi mà rắn rỏi lắm", bà nói, trong mắt vẫn ánh lên nỗi buồn của thời thơ ấu ít ai tưởng tượng nổi.

16 tuổi, bà có người yêu đầu, một anh bộ đội cùng làng. Chưa kịp hứa hẹn gì, anh hy sinh năm 1965. Mất mát ấy bóp nghẹt trái tim cô gái trẻ nhưng cũng chính là ngọn lửa thôi thúc bà dấn thân mạnh mẽ hơn.

Bà Thành tham gia giao lưu trực tuyến “Những câu chuyện thời hoa lửa”.

Nỗi đau chưa kịp nguôi, năm 1968, em gái bà là Trần Thị Thế theo chị lên tuyến 12A và hy sinh khi mới 17 tuổi. Một quả rốc két thả xuống hầm ở đồi Ba Trại khiến thi thể em gái tan vào đất đá. Đó là vết thương mãi không khép lại trong lòng người chị cả.

Dẫu vậy, bà Thành không cho phép mình gục ngã. Năm 1969, bà được điều về UBND tỉnh Quảng Bình cũ làm việc, rồi ra Hà Nội học tập. Sau đó, bà về T.Ư Đoàn, trở lại quê làm Phó chủ tịch UBND H.Tuyên Hóa rồi lên công tác tại UBND tỉnh, phụ trách khối văn hóa - xã hội. Bà luôn bảo: "Đảng thương mình lắm. Mình ít chữ nhưng Đảng giao việc thì phải làm cho tròn".

Tuổi già an dưỡng hơn 20 năm nay, nhưng bà vẫn chưa một ngày nghỉ. Bà tham gia Hội Cựu TNXP tỉnh, làm công tác Hội Nghĩa tình Trường Sơn, lặn lội khắp nơi để được gặp lại đồng đội cũ - còn sống thì ôm nhau mà cười, đã mất thì thắp nén nhang tri ân.

Gia đình là nơi bù đắp những đau thương thời chiến. Bà lập gia đình, có 4 người con, ai cũng trưởng thành, có công ăn việc làm. Chồng bà là một bác sĩ từng công tác ở Lào, đã mất gần 20 năm. Bà bảo mình may mắn hơn nhiều đồng đội khác khi được nhìn thấy con cháu đề huề...

Lời nhắn cho thế hệ trẻ

Khi được hỏi thế nào là sự hy sinh, bà Thành im lặng một lúc rồi nói: "Hy sinh là tuổi thanh xuân, là tình yêu, là sức khỏe để mở một con đường cho dân mình không làm nô lệ".

Nếu ngày ấy, bà Thành và các đồng đội chiến đấu để "chống Mỹ, cứu nước", thì với bà, thế hệ trẻ hôm nay có một nhiệm vụ cũng quan trọng không kém là xây dựng đất nước. "Các cháu không còn đánh giặc nữa thì phải làm kinh tế, xây dựng quê hương. Đoàn kết là tất cả, đoàn kết thì thắng lợi. Phải làm sao cho dân mình bớt khổ, cho đất nước mình mạnh lên, sánh vai với các cường quốc", bà nhắn gửi.

Ngồi trong căn nhà nhỏ nhìn ra vườn, người thiếu nữ năm xưa từng đứng hát trên quả bom nổ chậm vẫn giữ giọng nói hào sảng, đôi mắt lấp lánh niềm tin. Những gì bà đã trải qua, mồ côi cha mẹ, mất người yêu, mất em gái, mất hàng trăm đồng đội... không làm bà chai sạn, mà ngược lại càng khiến bà trân trọng từng ngày hòa bình.

Bà bảo: "Giờ mỗi ngày trôi qua đều là một món quà. Nhìn con cháu trưởng thành, có trách nhiệm, tôi thấy công lao của thế hệ mình không uổng".

Và những câu chuyện của bà, về bom nổ chậm, về những đêm đứng trên đồi hát át tiếng bom, về những đồng đội hy sinh mà không kịp nhắn gửi điều gì, vẫn sẽ ở lại như một ngọn lửa. Ngọn lửa của một thời bi tráng, lòng kiên trung, tình yêu Tổ quốc đến tận cùng. Ngọn lửa mà bà hy vọng thế hệ hôm nay sẽ tiếp tục giữ gìn. "Chúng tôi đã giữ được con đường Trường Sơn, còn các cháu hãy giữ cho được tương lai của đất nước", bà gửi gắm

 

Câu chuyện 2: Câu chuyện về những người như ông Võ Ngọc Thanh, bà Võ Thị Hạnh, ông Nguyễn Dư… trở thành sợi dây vô hình nối liền quá khứ và hiện tại, bồi đắp tình yêu quê hương trong lòng lớp trẻ.

Nhìn từ trên cao, làng Thủy Triều như chiếc phễu khổng lồ hứng trọn dòng nước từ thượng nguồn sông Trà Câu đổ về. Bao đời, người dân nơi đây oằn mình trước cảnh lũ lụt triền miên, mùa nước dữ nhấn chìm mái ngói, phủ trắng cả ruộng đồng. Thế nhưng, vượt lên thiên tai, rồi bom đạn chiến tranh, họ vẫn kiên cường bám đất, chung lưng dựng lại mái nhà, cần mẫn cuốc xới cho đồng lúa xanh tươi, mùa vàng trĩu hạt.

Cổng vào tổ dân phố Thủy Triều.

Ấp chiến lược thành làng chiến đấu

61 năm đã trôi qua, nhưng trong ký ức ông Võ Ngọc Thanh (85 tuổi), ngọn lửa của trận đánh năm 1964 vẫn còn rực cháy. Khi đó, ông cùng 5 chiến sĩ thuộc Đại đội 219 (Huyện đội Đức Phổ, Quảng Ngãi) do ông Ngô Đức Tấn chỉ huy, bí mật đột nhập ấp chiến lược Thủy Triều. Tại đây, họ vừa huấn luyện 10 du kích, vừa cải tạo những đoạn giao thông hào thành hệ thống liên hoàn, sẵn sàng ứng phó mọi đợt càn quét.

Sáng 12.10.1964, Liên đoàn Biệt động 37 của đối phương chia làm 2 mũi tiến vào làng. Đợi địch áp sát, bộ đội và du kích đồng loạt nổ súng. Tiếng lựu đạn nổ dồn dập. Đối phương hoảng loạn tháo chạy, bỏ lại nhiều vũ khí. Làng quê nhỏ ven sông bỗng rộn vang tiếng hò reo khi hơn chục khẩu súng AR-15 được thu về trang bị cho du kích.

Ông Võ Ngọc Thanh (trái) kể về trận đánh ở làng Thủy Triều 61 năm trước.

Sau đó, quân địch củng cố đội hình, mở thêm nhiều đợt tấn công có cả pháo binh yểm trợ. Song, tất cả đều thất bại trước sự kiên cường của lực lượng tại chỗ. Trong ký ức ông Thanh, điều khiến ông nhớ mãi không chỉ là chiến thắng, mà còn là tấm lòng nhân hậu của chỉ huy. Sau trận đánh, ông Ngô Đức Tấn còn dặn dò y tá băng bó cho thương binh phía bên kia, rồi nhờ dân khiêng lên QL1 để họ được đưa đi cứu chữa.

"Trận ấy, ta thu được hàng trăm khẩu súng, phải huy động cả làng chuyển về Huyện đội. Sau đó, anh Tấn được Quân khu 5 triệu tập để báo cáo kinh nghiệm biến ấp chiến lược thành làng chiến đấu", ông Thanh kể, ánh mắt vẫn rực lửa như thuở trai trẻ.

Bà Võ Thị Hạnh mong muốn nhà nước công nhận trận đánh ở làng Thủy Triều là di tích lịch sử.

Chiến thắng vang dội đó chỉ là sự khởi đầu của những ngày tháng cam go. Để trả đũa cho thất bại ê chề, đối phương lập tức phản công. Từ bộ binh, xe tăng, xe bọc thép đến tàu chiến ngoài biển, máy bay ném bom, tất cả đồng loạt nã vào Thủy Triều. Khói bom, lửa đạn cuồn cuộn, nhà cửa bốc cháy, ngôi làng ven sông như chìm trong biển lửa.

Bà Võ Thị Hạnh, 80 tuổi, khi ấy mới 19, rùng mình nhớ lại: "Ba ngày ba đêm ác liệt lắm. Mẹ nấu nướng, còn tôi gánh cơm nước đến công sự cho bộ đội, cách nhà 800 m. Rồi sau này tôi cũng vào du kích, cùng dân làng bám trụ đến ngày giải phóng". Bà Hạnh cũng tha thiết mong một ngày nhà nước công nhận trận đánh Thủy Triều là di tích lịch sử, dựng bia tưởng niệm để thế hệ mai sau luôn nhớ về khí phách cha ông.

Khi làng Thủy Triều nổi dậy

Chiến công Thủy Triều đã thôi thúc lớp lớp thanh niên khoác ba lô nhập ngũ. Thậm chí, có cả những người từng ở bên kia chiến tuyến, sau khi trở về đã đứng vào hàng ngũ du kích, cầm súng bảo vệ xóm làng.

Ông Nguyễn Dư là một trường hợp đặc biệt. Khi anh trai tập kết ra Bắc, ông ở lại quê nhà, gánh vác việc chăm sóc người mẹ già mù lòa và đỡ đần chị dâu nuôi cháu nhỏ. Nghe lời mẹ, ông sớm lập gia đình để có thêm đôi tay chia sẻ. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, chỉ ít lâu sau, ông bị bắt đi quân dịch, đưa vào tận Phú Yên, để lại phía sau mái nhà chia cắt trong nỗi lo âu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Thiếu nữ 'thép' của tuyến lửa | Câu chuyện thời hoa lửa