Thiếu tướng, Anh hùng Rơ Ô Cheo
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Rơ Ô Cheo sinh năm 1952 ở buôn Chư Jú, xã căn cứ cách mạng Ia Rsai, thuộc huyện H2, tỉnh Đak Lak (nay là xã Ia Rsai, huyện Krông Pa)
Thiếu tướng Rơ Ô Cheo sinh năm 1952 ở buôn Chư Jú, xã căn cứ cách mạng Ia Rsai, thuộc huyện H2, tỉnh Đak Lak (nay là xã Ia Rsai, huyện Krông Pa). Có cha làm cán bộ xã nên từ nhỏ, ông đã sớm giác ngộ cách mạng, nung nấu quyết tâm đuổi giặc giữ làng. Năm 14 tuổi, ông tham gia lực lượng du kích xã và 1 năm sau đó (1967) thì vào bộ đội huyện H2. Như bao chàng trai Jrai khác cùng thời, ông lao vào cuộc chiến để đánh giặc cứu làng, cứu nước. Thế rồi, cuộc đời binh nghiệp của ông kéo dài cho đến lúc về già.
Trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, sau đó, ông lại bước vào những năm tháng dài lặn lội khắp các buôn làng, núi cao, suối sâu tìm diệt bọn phản động FULRO. Đánh không dưới 100 trận, ông bảo rằng mình may mắn hơn đồng đội khi chỉ bị thương một lần trong trận chống giặc càn quét năm 1971. “Tôi nhớ nhất là trận đánh đồn dân vệ (tại vị trí Bệnh viện huyện Krông Pa ngày nay-N.V) vào tháng 3-1971. Khi ấy, tôi làm trinh sát Huyện đội. Chập tối, tôi đi trinh sát nắm tình hình, sau đó về báo cáo với lãnh đạo đơn vị lên phương án tấn công. 3 giờ sáng, tôi cùng anh em từ dưới bờ sông Ba bò lên phía sau lưng đồn, cắt kẽm gai vào đánh úp lúc giặc đang ngủ say, diệt gọn 30 tên và tịch thu toàn bộ vũ khí, thiết bị quân sự của chúng.
Tháng 3-1975, đơn vị của ông-Đại đội cơ động 303 thuộc Tỉnh đội Đak Lak-phối hợp cùng Huyện đội H2 tiến hành phục kích, chặn đánh đoàn quân địch rút chạy từ Pleiku về Phú Yên tại địa phận Phú Túc khiến chúng hoảng loạn. Trận ấy, ngay tại gò đất thuộc Ban Chỉ huy Quân sự huyện Krông Pa bây giờ, ông dùng B40 bắn trúng tháp pháo xe tăng địch. Chiếc xe tăng bốc cháy, gần 10 tên lính ngụy ngồi trên xe chết rơi xuống đất. Bọn địch lái xe chạy được một đoạn vòng lên phi trường Krông Pa rồi bỏ chạy.
Hòa bình lập lại, song quê hương Tây Nguyên của ông lại đối mặt với sự chống phá của bọn phản động FULRO. Trong suốt những năm 1976-1979, ông cùng với cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 303 (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đak Lak) bền bỉ đấu tranh chống FULRO khắp vùng Ayun Pa, Buôn Hồ, Ea Súp. Đơn vị vừa tổ chức tìm diệt FULRO, vừa vận động quần chúng nhân dân tố giác bọn phản động; đấu tranh bóc gỡ các khung ngầm tổ chức của chúng. Với vai trò Đại đội trưởng Đại đội cơ động 303, ông đã chỉ huy anh em chiến sĩ tổ chức đánh hàng chục trận, tìm diệt hàng chục tên phản động FULRO. Cái tên Rơ Ô Cheo ngày đó đã trở thành nỗi khiếp sợ của bè lũ phản động FULRO suốt cả một vùng Nam Gia Lai, Bắc Đak Lak.
Nhiệm vụ chống FULRO cơ bản hoàn thành, tháng 5-1980, ông mới bắt đầu đi học văn hóa tại Trường Văn hóa Quân khu 5 (tỉnh Bình Định) và tiếp đó là lớp tiểu đoàn trưởng tại Trường Quân sự Quân khu 5 (Đà Nẵng). Tháng 8-1981, ông vinh dự được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.


