Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

THIẾU TƯỚNG BÙI CÁT VŨ – NGƯỜI CHIẾN SĨ SỐNG GẤP ĐÔI CUỘC ĐỜI

Thiếu tướng – Nhà văn Bùi Cát Vũ (1924–2002), tên thật Bùi Văn Bê, quê ở xã Hưng Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, là người chiến sĩ trọn đời cống hiến cho Tổ quốc. Từ anh thanh niên Tiền phong trong Cách mạng tháng Tám, ông trở thành một chỉ huy quân sự tài năng, trực tiếp tham gia hai cuộc kháng chiến, là Phó Tư lệnh Quân đoàn 4, góp phần quan trọng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia. Song song với binh nghiệp, ông còn là nhà văn quân đội giàu nhiệt huyết, t

Vĩnh Long19/11/2025Sưu tầm và biên soạn Ngô Văn Tưởng (Đoàn Thanh niên xã Hưng Mỹ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
THIẾU TƯỚNG BÙI CÁT VŨ – NGƯỜI CHIẾN SĨ SỐNG GẤP ĐÔI CUỘC ĐỜI

“Tôi muốn được sống gấp đôi lượng thời gian mà tạo hóa đã ban phát cho mỗi cuộc đời”. Đó là câu trả lời của Bùi Cát Vũ khi một nhà nghiên cứu hỏi ông vì sao ông vừa là nhà quân sự lại vừa là nhà văn. Thực vậy, cuộc đời của Bùi Cát Vũ gắn liền với cả binh nghiệp và văn nghiệp. Những cống hiến của ông cho quê hương, đất nước thật đáng khâm phục. Ông đã chiến đấu, học tập, lao động không biết mệt mỏi cũng chính vì muốn được sống gấp đôi lượng thời gian mà tạo hóa đã ban phát cho mình và ông đã thực hiện được điều đó.

Bùi Cát Vũ tên thật Bùi Văn Bê, còn gọi là Cò Bê, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1924 tại làng Hưng Mỹ, Tổng Trà Bình, quận Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Nay là ấp Rạch Vồn, xã Hưng Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, ở một xã hẻo lánh nằm trên vàm sông Cổ Chiến, lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, cậu bé Bùi Văn Bê phải gánh chịu biết bao thiệt thòi. Cũng như nhiều đứa trẻ miền quê khác, tuổi thơ của cậu sớm gắn liền với việc mò cua, bắt ốc, nhưng lòng ham học cộng với trí thông minh, Bê đã vượt qua khó khăn đeo đuổi việc học hành. Mười một tuổi thi đậu vào trường tiểu học Trà Vinh với hạng nhất học bổng.

Rồi những năm tháng học tiểu học vất vả, bỡ ngỡ của một cậu bé quê lên tỉnh lỵ đi học cũng qua đi, cậu thi đậu vào trường trung học Mỹ Tho (vì hệ thống giáo dục ở Trà Vinh lúc bấy giờ chưa có trường trung học chỉ có trường tiểu học). Nhưng cậu phải nghĩ học vì gia đình không thể lo được. Như vậy, thời cắp sách đến trường của cậu bé Bê đành phải chấm dứt bởi cái nghèo, cái khó.

Trở về quê, mảnh đất gắn liền với nhiều kỷ niệm thời thơ ấu đã không bó chân được cậu thiếu niên mới 14 tuổi này bởi lòng say mê học tập, tính tò mò thích tìm tòi, học hỏi. Những tiếng súng, tiếng đại bác...hàng ngày đặt ra nhiều dấu hỏi trong óc thơ ngay của cậu. Các câu hỏi: Ai đã làm cho mình nghèo khổ? Bọn Tây tà là ai?....càng thôi thúc cậu thiếu niên Bùi Văn Bê tìm lời lý giải.

Bê quyết định rời quê nhà lên Sài Gòn nơi được coi là chốn “văn minh” để tìm hiểu. Việc đầu tiên là tìm kế sinh nhai. Qua người quen cậu được giới thiệu vào làm việc cho tờ báo “Dân chúng”, tờ báo công khai của Trung ương Đảng ở Sài Gòn, ra đời tháng 7 năm 1939 nhờ sự kiện Mặt trận Bình dân Pháp giành được thắng lợi lớn trong cuộc tổng tuyển cử tháng 5 năm 1936, tạo điều kiện cho các phong trào dân chủ ở các nước thuộc địa của Pháp. Chưa được bao lâu, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ngày 3 tháng 9 năm 1939 Chính phủ Pháp tuyên bố tham chiến và đặt Đảng Cộng sản Pháp ra ngoài vòng pháp luật. Mặt trận Bình dân Pháp bị lật đổ. Toàn quyền Đông Dương tuyên bố phải đàn áp cách mạng một cách triệt để và toàn diện. Ở các nước thuộc địa của Pháp phong trào “dân sinh, dân chủ” bị cấm. Tại Sài Gòn nhiều tờ báo công khai tiến bộ bị đóng cửa, báo chí cách mạng bị khủng bố trong đó có tờ “Dân chúng”. Nhiều đồng chí trong tòa soạn và Bùi Văn Bê nghiễm nhiên trở thành chính trị phạm phải vào tù. Sau đó, vì chưa đủ tuổi cậu được thả tự do. Lẽ ra, ở cái tuổi hồn nhiên này, Bê được tung tăng cấp sách đến trường, nhưng đăng này cậu phải lăn lộn vào đời. Và chỉ hơn một năm sinh sống trên đất Sài Gòn cậu đã phải “nếm mùi” của chủ nghĩa thực dân. Cậu đã nhìn ra đằng sau ánh đèn điện Sài Gòn còn biết bao cảnh đời, bao nhiêu chuyện ngang trái. Chính mặt trái của chốn Sài Gòn phồn hoa đô hội đã chỉ ra cho cậu biết thế nào là “văn minh” mà bọn thực dân đang đi “khai hóa”. Từ đó hình thành trong cậu một nhân sinh quan, một thế giới quan mới mẻ để cậu bước tiếp sau này.

Được trả tự do nhưng Bê không trở về quê nhà mà tiếp tục ở lại đất Sài Gòn kiếm sống. Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, cách mạng nước nhà đứng trước vận hội mới, Bùi Văn Bê quyết định bỏ trốn khỏi Sở máy bay Biên Hòa nơi anh đang làm công trả nợ, về lại quê nhà tham gia cách mạng, góp phần giải phóng quê hương. Sau nhiều năm bôn ba tìm hiểu, người thanh niên này đã nhận ra con đường chân chính tìm đến chân lý và anh quyết định thực hiện điều đó bằng con đường binh nghiệp. Đây cũng là bước ngoặt trong cuộc đời Bùi Cát Vũ.

Trong những ngày sôi sục chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8, tháng 4 năm 1945 Bùi Cát Vũ gặp đồng chí Dương Quang Đông (Dung Văn Phúc) – Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh bấy giờ và được đồng chí giới thiệu vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Như vậy, trên mảnh đất quê hương, anh thanh niên Bùi Cát Vũ đã vinh dự được đứng vào hàng ngũ những người Cộng sản, sát vai cùng đồng chí, đồng đội chiến đấu khi mới 21 tuổi.

Đầu tháng 5 năm 1945, tổ chức thanh niên Tiền Phong tỉnh Trà Vinh ra đời. Ban lãnh đạo của tổ chức này được gọi là Tỉnh bộ Thanh niên Tiền phong Trà Vinh. Bùi Cát Vũ được giao nhiệm vụ phụ trách một đơn vị lực lượng thanh niên này, rồi sau đó là ủy viên quân sự trong Ủy ban kháng chiến tỉnh.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Ủy ban hành chánh lâm thời Trà Vinh đã khẩn trương chỉ đạo tổ chức đơn vị Cộng hòa vệ binh, lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng đầu tiên của tỉnh. Bùi Cát Vũ và đồng chí Bùi Hữu Nam được cử làm chỉ huy. Đội Cộng hòa vệ binh có hơn hai phần ba quân số là lính khố xanh cũ, số còn lại chuyển từ các đội du kích và thanh niên cứu quốc, thanh niên Tiền phong, quân số trên 200 người.

Ngày 23/9/1945, Pháp quay lại đánh chiếm nước ta lần nữa, kháng chiến Nam bộ bùng nổ. Ngày 12/12/1945, Pháp đổ quân lên đất Trà Vinh. Quân ta bố trí đánh địch trên khắp các mặt trận. Tuy nhiên, với sức mạnh về quân sự của Pháp, các mặt trận ta bố trí lần lượt bị vỡ, quân dân ta phải rút lui.

Trong một cuộc chiến đấu Bùi Cát Vũ bị trọng thương phải điều trị một thời gian. Theo chủ trương "Xuyên Đông" của xứ ủy Nam bộ, tháng 4 năm 1946 ông về chiến khu miền Đông Nam bộ. Từ giữa năm 1946 đến năm 1947 là chỉ huy Phó mặt trận La Ngà, năm 1948 đến năm 1954 là Tỉnh đội Phó Biên Hòa rồi Tỉnh đội Phó - Tham mưu trưởng liên tỉnh Thủ - Biên tức Thủ Dầu Một, Biên Hòa.

Cuộc trường kỳ kháng chiến thắng lợi, nhưng đế quốc Mỹ đã nhảy vào can thiệp - Đất nước bị chia cắt, đồng chí Bùi Cát Vũ lại lên đường tập kết ra Bắc, ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa ông được phân công làm Trưởng Ban tác chiến huấn luyện sư đoàn 330, rồi Chủ nhiệm pháo binh năm 1956. Trong thời gian từ 1958 đến 1960, Bùi Cát Vũ sang Trung Quốc học tại Học viện quân sự. Về nước công tác tại Học viện quân sự cấp cao, ông là Chủ nhiệm khoa pháp binh và pháo cao xạ, là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Học viện quân sự cấp cao Bộ quốc phòng. Năm 1963, ông sang Liên Xô nghiên cứu làm luận án Phó tiến sĩ về khoa học pháo binh. Nhưng do yêu cầu của tình hình mới ông phải trở về nước và trở lại chiến trường miền Nam. Vào năm 1964, với chức vụ Tham mưu trưởng Quân khu I, phụ trách việc xây dựng và phát triển lực lượng pháo binh cho miền Nam. Đến năm 1967, giữ chức Chủ nhiệm bộ đội pháo binh miền Nam kiêm Tư lệnh đoàn pháo binh Biên Hòa. Năm 1973, là tham mưu Phó Bộ Chỉ huy quân sự miền Nam. Năm 1974, là Phó tư lệnh Quân đoàn 4 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ông là một trong những người chỉ huy Quân đoàn tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975.

Đất nước thống nhất chưa được bao lâu thì chiến tranh biên giới phía Tây Nam nổ ra, anh thanh niên Tiền phong của 30 năm trước giờ đây đã là Phó tư lệnh Quân đoàn lại cùng đồng đội sang chiến trường Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế.

Ngày 7/01/1979, ông cùng Quân đoàn tiến vào giải phóng Pnôm Pênh đưa nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của bọn Pôn Pốt.

Năm 1980, Bùi Cát Vũ là thiếu tướng - Phó tư lệnh quân khu 7 phụ trách mặt trận 779 giúp nước bạn. Năm 1987 ở tuổi 63, mặc dầu bầu nhiệt quyết của người lính vẫn còn cháy bỏng, nhưng do tuổi cao sức yếu ông được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

Vậy là, sau hơn 40 năm cùng đồng chí đồng đội trực tiếp chiến đấu, từ anh thanh niên Tiền phong tham gia cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám ngày nào, rồi là một người chỉ huy làm nên chiến thắng Phước Long giòn giã trong kháng chiến chống Mỹ, đến vị tướng - Phó tư lệnh Quân khu sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn. Giờ đây Bùi Cát Vũ chia tay với những hành trang người lính.

Bùi Cát Vũ: vừa là một người lính, vừa là một nhà văn.

Chỉ mỗi học hết tiểu học, nhưng vốn ham thích văn học, 15 tuổi Bùi Cát Vũ đã là nhân viên của tờ báo “Dân chúng”. Tác phẩm đầu tay của ông là phóng sự “Sau ánh đèn điện Sài Gòn”. Mặc dù thời gian làm việc cho tờ báo của Đảng Cộng sản này không lâu, nhưng được tiếp xúc với các đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Dương Bạch Mai... những chiến sĩ Cộng sản đã ảnh hưởng lớn đến nhân cách và nghiệp của ông trong đó có sự nghiệp văn học.

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí Bùi Cát Vũ chẳng những xung phong băng đầu lê mũi súng mà cả bằng ngọn bút nữa. Ông là một trong những người sáng lập và là cây bút chính của các tờ báo “Tiếng rừng”, “Sứ mạng”. Ngoài ra, ông cũng viết nhiều bài báo, truyện ngắn cho Đài tiếng nói Việt Nam, cho báo “Quân đội nhân dẫn”, tạp chí “Văn nghệ quân đội”... Những trang viết của Bùi Cát Vũ gắn liền với hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ, với từng trận đánh, địa danh, những mốc lớn của lịch sử dân tộc mà ông cùng đồng đội đã đi qua. Năm 1975, có ký sự “Đường vào Sài Gòn” thì năm 1979 ông lại có ký sự “Đường vào Phnôm Pênh”. Sau năm 1975, một số tác phẩm của ông gây được sự chú ý của bạn đọc, như: tập chuyện “Quê Hương” do nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, gồm một số truyện ngắn và ký. Quyển hồi ký “Buổi đầu chập chững” do nhà xuất bản Đồng Nai in và phát hành năm 1988, tập hợp nhiều tư liệu lịch sử có giá trị.

Ngoài viết văn, đồng chí Bùi Cát Vũ còn công tác với các báo “Sài Gòn giải phóng”, “Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh”... ông còn là thành viên viết sử của Bộ quốc phòng và là Ủy viên Thường vụ Hội văn học nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ông còn viết nhiều kịch bản phim, như: “Thành phố có người”, “Sư đoàn 9 anh hùng”. Những tác phẩm này được đánh giá cao về tính chân thực lịch sử và để lại ấn tượng tốt đẹp trong công chúng.

Bên cạnh cuộc đời binh nghiệp khá vẻ vang thì sự nghiệp văn nghiệp của Bùi Cát Vũ cũng gặt hái được những thành công nhất định. Thành công hơn cả là đề tài chiến tranh và người lính, bởi vì bản thân tác giả là một chiến sĩ đã đi qua cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, đến 21 năm chống Mỹ rồi chiến tranh biên giới Tây Nam. Vì vậy, hinh ảnh người lính đã in đậm trên từng trang viết và được ông thể hiện hết sức chân thực, sống động. Tất cả các tác phẩm của ông là những tư liệu quý về mặt lịch sử.

Bùi Cát Vũ - người chiến sĩ đã sống, chiến đấu, học tập không biết mệt mỏi. Cuộc đời và sự nghiệp của ông để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá: tinh thần cần cù chịu khó, ý chí vươn lên, đặc biệt là sự kiên trì học tập. Từ một cậu học sinh mới học hết tiểu học đã phải lăn lộn vào đời, rồi là người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu trong thời gian dài, nhưng ông đã xác định: phải nâng cao trình độ văn hóa, nâng cao kiến thức thì mới tiếp thu được khoa học, nhất là khoa học về quân sự - ngành mà sẽ góp phần trực tiếp cho cuộc kháng chiến mau chóng đi đến thắng lợi. Vì vậy, trong chiến tranh ông vừa công tác vừa học tập. Ngay khi tập kết ra Bắc, ông đã học bổ túc văn hóa để ba năm sau tốt nghiệp cấp 3. Đồng thời, ngoài tiếng Pháp đã biết ông còn học tiếng Trung Quốc, tiếng Nga rồi sau đó sang Trung quốc, Liên Xô nghiên cứu. Và đồng chí Bùi Cát Vũ đã nghiên cứu sâu về khoa học pháo binh.

Trong chiến đấu, đồng chí Bùi Cát Vũ luôn suy nghĩ tim tôi nhằm sáng chế tạo ra những loại vũ khí, những cách đánh mới. Chính ông là người chế tạo ra loại mìn FI, loại mùa đánh địch rất có hiệu quả và cũng chính ông đã xây dựng đội du kích đánh tháp canh từ năm 1947, mở đầu cho cách đánh đặc công.

Hiện tại, tuổi cao sức yếu, nhưng ông vẫn tiếp tục cống hiến, những trang viết mới về người lính đang và sẽ được ông cho ra đời.

Vị tướng - nhà văn Bùi Cát Vũ - người con của quê hương Trà Vinh - một tấm gương sáng ngời.

Với những cống hiến lớn lao đó, Thiếu tướng Bùi Cát Vũ đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương cao quý:

- Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

- Huân chương Độc lập hạng Nhất.

Huân chương Hồ Chí Minh hạng Nhất.

- Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì, Ba.

- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

Thiếu tướng – Nhà văn Bùi Cát Vũ qua đời tháng 3/2002 tại TP. Hồ Chí Minh, để lại những trang viết, những chiến công và một cuộc đời “sống gấp đôi” đúng như hoài bão ông từng nói.

Ông là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, trí tuệ, nghị lực và khát vọng cống hiến của người con đất Trà Vinh (cũ) và Vĩnh Long.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn