Thiếu tướng Đặng Trần Đức
Thiếu tướng Đặng Trần Đức (tức Ba Quốc) từng kể với Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh những câu chuyện trong lòng địch hậu, chứng kiến cảnh cán bộ tình báo của ta bị địch bắt khi ông làm ở Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo nguỵ.Khi ấy, ông Ba Quốc đảm nhiệm chức vụ Trưởng phòng An ninh nội bộ nên may mắn không trực tiếp khai thác đồng đội của mình. Tuy nhiên, ông biết rất rõ quá trình địch khai thác cán bộ tình báo cách mạng.Cán bộ tình báo của ta khi bị bắt - bị khai thác bí mật bởi lực lượng tình báo VNCH. Cán bộ của ta bị bắt vào không hồ sơ, không số, không công khai, không được đem ra tòa xử. Đồng nghĩa, bộ tình báo của ta bị địch bắt chỉ có ba con đường. Một là bị thủ tiêu sau khai thác. Hai là buộc phải khai và được địch lợi dụng đánh bại tổ chức của ta, khi hết giá trị có thể bị thủ tiêu. Ba là, những người trung kiên nhất định không khai. Những người này, khi có cơ hội sẽ được đồng đội tìm cách đưa ra khỏi nhà tù tình báo địch.Khó khăn nhất, gian khổ nhất của cán bộ tình báo bị địch bắt là đối diện với những thủ đoạn khai thác của địch. Địch đem tiền, đem chức quyền, đem vật chất làm mồi nhử… nhưng cán bộ của ta đều có thể vượt qua được cám dỗ tầm thường đó.Ông Ba Quốc cũng nhắc về những tấm gương cán bộ tình báo kiên trung, bất khuất khi bị địch bắt. Điển hình là Thiếu tá Nguyễn Văn Thương (ông Hai Thương). Ông bị bắt và bị cả Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa và CIA khai thác, hứa hẹn đủ điều, nhưng ông quyết không khai."Cuối cùng địch cưa chân ông ấy. Cưa sống, không gây mê, chỉ gây tê để ông ấy cảm nhận được cái đau. Chúng cưa bằng cưa thợ mộc chứ không phải cái cưa y tế… Sáu lần cưa như thế mà ông Hai Thương không khai", Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh thuật lại qua lời kể của ông Ba Quốc. Ông Ba Quốc từng kể, trong công tác tình báo, nguyên tắc bảo mật và khoảng cách giữa các điệp viên là cực kỳ nghiêm ngặt. Chính vì vậy, việc nhận ra nhau trong lòng địch là điều rất hiếm gặp. Nếu nhận ra nhau thì nguy cơ bị địch phát hiện sẽ rất cao, đồng nghĩa với sự hy sinh.Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, ông Ba Quốc hai lần nhận ra đồng chí của mình.Một người là ông Phạm Xuân Ẩn, người còn lại không ai khác, chính là ông Phạm Ngọc Thảo - lúc đó đang là Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre), một ngôi sao trong chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ."Ông Thảo lạ lắm, học ở Pháp về rồi theo Việt Minh đánh Pháp, sau đó mới quay về Sài Gòn và được anh em Diệm, Nhu rất coi trọng. Có thể nói ông ấy là một ngôi sao sáng trong bầu trời chính trị - quân sự Sài Gòn bấy giờ. Tôi nghiên cứu về ông Thảo có những điều ngờ ngợ…", ông Ba Quốc kể lại.Qua thời gian tự bí mật theo dõi, ông Ba Quốc thấy nhiều điểm bất thường từ ông Thảo. Tuy theo công giáo nhưng ông Thảo vẫn giữ bàn thờ tổ tiên, điều tối kỵ với chế độ Sài Gòn. Giữ chức vụ quan trọng trong quân đội và chính quyền Sài Gòn, khu vực ông Thảo phụ trách lại không hề bị vỡ cơ sở cách mạng. Phong trào Đồng khởi thậm chí còn bắt đầu từ vùng này. Ông Thảo làm nhiều việc cho địch nhưng lại không có hại cho ta.Đặc biệt, trong thời điểm xảy ra các cuộc đảo chính ở miền Tây và Sài Gòn do ông Thảo tổ chức, ông Ba Quốc càng củng cố niềm tin rằng Phạm Ngọc Thảo ít nhất là người có cảm tình với cách mạng, nếu không phải là cán bộ tình báo.Khi đảo chính thất bại, ông Phạm Ngọc Thảo chạy xuống nhà thờ ở Hố Nai (TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Thời điểm ấy, ông Ba Quốc với tư cách là người phụ trách mối quan hệ với cụm tôn giáo của Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo VNCH, nói với một số cha xứ ở Hố Nai rằng ông Thảo không phải là người của cách mạng mà cuộc đảo chính này là vấn đề nội bộ của chính quyền, nhờ các cha giúp che giấu và ngăn chặn Dương Văn Hiếu sát hại ông Thảo.Thế nhưng, tất cả những việc ông Ba Quốc làm đã muộn. Khi ông xuống đến nơi thì Thảo đã bị tướng Nguyễn Ngọc Loan (đính chính từ người viết) sát hại. Chính quyền Sài Gòn khi sát hại ông Thảo cũng không chứng minh được ông là người của cách mạng.


