Bài viết

THIẾU TƯỚNG DƯƠNG VĂN DƯƠNG (1900 - 1946), VỊ TƯỚNG ĐẦU TIÊN CỦA NAM BỘ

Vĩnh Long29/11/2025Hoa Lửa3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Dương Văn Dương (thường gọi là Ba Dương, còn có các tên gọi khác như Ba Lê, Sáu Phận, ông Sáu Nam Vang) , thủ lĩnh giới giang hồ Bình Xuyên và sau trở thành người chỉ huy của lực lượng quân sự kháng chiến chống Pháp - Bộ đội Bình Xuyên trong những năm 1945 - 1946. Ông có vóc người tầm thước, tính tình nghiêm nghị, ít nói nhưng luôn hòa nhã, thân thiện.

Ông sinh quán ở xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, con ông Ngô Văn Mà và bà Dương Thị Biếu. Ông Mà có tinh thần chống Tây, bị thực dân Pháp thường xuyên theo dõi. Năm lên 3 tuổi thì cha mất, Dương mang họ mẹ và theo mẹ lên Sài Gòn tha phương cầu thực. Từ nhỏ, Dương Văn Dương đã có tính tự lập và thích đi ngao du. Hoàn cảnh nghèo nên Ba Dương nghỉ học sớm. Xa gia đình khi vừa học xong cấp tiểu học nhưng Dương luôn lạc quan học ở trường đời và kiên trì trong cuộc sống lao động lương thiện. Ba Dương hành nghề nuôi vịt chạy đồng ở vùng đồng ruộng Nhà Bè, Cần Đước, Gò Công, Bến Tre,... để vừa kiếm sống, vừa thỏa chí ngao du. Ông say mê võ thuật và đã bái sư nhiều thầy võ có tiếng. Nhờ đó, nghề võ của ông nổi trội hơn số anh chị ở Sài Gòn - Chợ Lớn.

Năm 1936, ông mở lớp dạy võ ở làng Tân Quy, Nhà Bè, kiêm nghề bảo hiểm bình dân của giới anh chị là "bảo kê" cho các chủ ghe thương hồ vận chuyển lương thực, hàng hóa trên kênh Cây Khô, ngay cửa ngõ Sài Gòn.

Ông là đại ca giới giang hồ ở Chánh Hưng, Chợ Lớn. Trong đám đàn em của ông có Mười Trí, Bảy Viễn (Lê Văn Viễn), Hai Vĩnh, Năm Hà... sau đều theo cách mạng tham gia kháng chiến chống Pháp. Do có uy tín trong giới giang hồ, ông từng được mời bảo kê bến xe Tây Ninh - Nam Vang một thời gian. Ông được xem là thủ lĩnh của giới lục lâm thảo khấu Nam kỳ bấy giờ.

Năm 1940, Ba Dương vào làm công nhân cho hãng tàu Nichinan của Nhật. Sau đó, ông lập ra "Thanh niên cảm tử đoàn" toàn dân giang hồ, đặt trụ sở tại chợ Tân Quy. Năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng minh, ông thôi làm việc ở hãng tàu Nichinan, về ở Tân Quy. Nhờ cướp được võ khí quân Nhật, ông lấy đó trang bị cho lực lượng cảm tử đoàn và đổi tên là Bộ đội Ba Dương. Trước Cách mạng tháng Tám, ông dạy võ cho Thanh niên Tiền phong Cần Giuộc tham gia cướp chính quyền. Sau khi quân Anh - Pháp gây hấn, Dương Văn Dương thống nhất Bộ đội Ba Dương và các lực lượng quân sự tự phát thành Bộ đội Bình Xuyên. Tháng 11 năm 1945, ông được cử làm Chỉ huy trưởng các lực lượng Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông ở mặt trận số 4, giữ mặt Nam Sài Gòn. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, Ba Dương lệnh cho các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, ông thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận,... và chọn rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.

Từ đó, Bộ đội Bình Xuyên trở nên mạnh nhất vùng Đông Nam Bộ, được tổ chức thành các chi đội, hợp thành Liên khu Bình Xuyên. Giữa tháng 12/1945, Khu bộ trưởng Khu 7 (sau này là Quân khu 7) Nguyễn Bình thăm Sở chỉ huy Bình Xuyên ở Phước An, quyết định bổ nhiệm Dương Văn Dương giữ chức Khu bộ phó Khu 7 và giao cho ông nhiệm vụ chỉ huy một bộ phận quan trọng lực lượng Bình Xuyên xuống chi viện cho chiến trường Khu 8 ở đồng bằng sông Cửu Long, đánh giặc trên đường đi và thống nhất lực lượng vũ trang nơi đơn vị đến.

Đầu năm 1946, thực hiện mệnh lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình theo yêu cầu chi viện của Khu bộ phó Khu 8 Trương Văn Giàu, Dương Văn Dương chỉ huy 5 đại đội quân Bình Xuyên từ rừng Sác về Bến Tre cứu nguy cho mặt trận An Hóa - Giao Hòa. Nhưng khi đến bờ Nam Cửa Tiểu thì được tin mặt trận An Hóa -Giao Hòa đã mất. Bộ chỉ huy quyết định tổ chức đánh đoàn tàu thực phẩm, sau đó kéo quân về làng Châu Bình (quận Tán Kế, nay là Giồng Trôm) hội quân với lực lượng Cộng hòa Vệ binh, Quốc gia Tự vệ cuộc của Trương Văn Giàu và Nguyễn Văn Quạn bàn kế hoạch mở mặt trận đánh Pháp. Đang hội nghị thì được tin địch tấn công. Đơn vị của Ba Dương ở ấp Bình Khương (Châu Bình) chưa kịp triển khai ứng chiến thì bị bao vây tứ phía. Trong tình thế nguy cấp, cán bộ cận vệ đưa cho Ba Dương một xấp giấy thuế thân để ông cùng một số anh em giả dạng thường dân "chém vè" bảo vệ lực lượng. Nhưng quen hành xử lối trượng phu quân tử, ông xé giấy thuế thân và trả lời: “Cám ơn anh đã lo cho tôi, những kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn. Tôi quyết không nghe theo lời anh. " Ba Dương lập tức xoay quanh cây rơm sau nhà trú quân, vừa tránh đạn vừa ra lệnh cho đơn vị triển khai chiến đấu. Không may, ông bị máy bay Spifire của Pháp bắn tử trận vào lúc 8 giờ 30 phút sáng ngày 17/2/1946 (nhằm ngày 16 tháng Giêng năm Bính Tuất).

Ông được an táng ở Châu Bình, sau đó hài cốt được cải táng về nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh.

Đánh giá chung về ông, có sách viết: "Tuy là dân giang hồ, nhưng Ba Dương có học đến tiểu học, lại có tư cách đạo đức của một thủ lĩnh, có uy tín với đàn em. Chọn Ba Dương là người phất cao lá cờ giang hồ theo cách mạng là thủ thuật hay nhất để nắm lấy giới giang hồ mã thượng. Ba Dương tử trận, tướng Nguyễn Bình mất một cánh tay đắc lực. (1)" Trong điện mật số 946/TRT năm 1946 gửi Khu 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lời chia buồn với gia quyến Dương Văn Dương. Tướng Nguyễn Bình cùng Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ đề nghị Trung ương và Bác Hồ truy phong hàm Thiếu tướng cho Dương Văn Dương.

Ngày 5/8/1948, ông được truy phong là liệt sĩ, Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam, là vị tướng được truy phong đầu tiên của Việt Nam, đồng thời cũng là vị thiếu tướng đầu tiên của Nam Bộ. Ông được xem là bậc đàn anh của các tướng lĩnh Nam Bộ và luôn nhận được lòng kính phục của nhiều vị tướng tài sau này như: Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hữu Vị, v.v...

Năm 1947, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ quyết định lấy tên ông đặt cho một con kênh đào dài nhất ở Đồng Tháp Mười (45km) nối từ huyện Tân Thạnh (Long An) sang tỉnh Đồng Tháp thay cho tên cũ là Lagrange - Chủ tỉnh Long An thời Pháp thuộc. Ngoài ra, tên ông còn được đặt cho Trung đoàn 300 - Trung đoàn Nam tiến nổi tiếng đánh giặc giỏi.

Năm 2000, thành phố Hồ Chí Minh đã đặt tên ông cho một con đường ở Phường 16, quận Tân Bình (nay thuộc quận Tân Phú). Năm 2014, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh cũng có trường trung học phổ thông mang tên ông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn